Tổng hợp

Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên cán bộ quản lý QLPT 02

hoatieu.vn xin gửi đến thầy cô bài viết Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên cán bộ điều hành QLPT 02 theo Thông tư 18/2019/TT-BGDĐT để thầy cô cùng tham khảo. Bài thu hoạch là bài thu hoạch về đổi mới quản trị nhà trường trong bối cảnh đổi mới giáo dục.

  • Chương trình giáo dục phổ quát toàn cục 2018
  • Cách đăng nhập Chương trình đào tạo và bồi dưỡng Giáo viên

Bài thu hoạch BDTX cán bộ điều hành QLPT 02: Đổi mới quản trị nhà trường trong bối cảnh đổi mới giáo dục

Xem xét: Đây chỉ là tài liệu tham khảo nhằm tương trợ các thầy cô có tài liệu tự viết bài thu hoạch cho bản thân mình.

QUẢN TRỊ TRƯỜNG HỌC TRƯỚC YÊU CẦU

ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Tóm tắt. Trong bối cảnh hiện tại, trước đề xuất đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục và huấn luyện, đổi mới quản trị trong nhà trường là xu hướng tăng trưởng quan trọng. Đây cũng là 1 trong những giải pháp để chỉnh sửa, tăng lên chất lượng giáo dục. Bài viết tập hợp vào 1 số nội dung chính: quản trị trường học; điều hành nhà trường trong môi trường tự chủ – 1 đề xuất tiên quyết của quản trị trường học; quản trị trường học trước đề xuất đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục và huấn luyện; năng lực quản trị trường học trước đề xuất đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục và huấn luyện.

Khởi đầu

Trong công cuộc đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục và huấn luyện Việt Nam hiện tại, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã có Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 8 hợp nhất lãnh đạo đổi mới giáo dục Việt Nam bằng Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 5 2013. Đây là 1 nghị quyết Trung ương bình chọn khá toàn diện những mặt được và chưa được của giáo dục Việt Nam trong 30 5 đổi mới và quan trọng đã chỉ rõ tiêu chí và các biện pháp để tới những 5 2030 “Giáo dục Việt Nam đạt trình độ hiện đại khu vực”. Nghị quyết 29-NQ/TW đã chỉ ra 1 nội dung cực kỳ quan trọng: “Đổi mới cơ bản công việc điều hành giáo dục, huấn luyện, đảm bảo dân chủ, hợp nhất; tăng quyền tự chủ và phận sự xã hội của các cơ sở giáo dục, huấn luyện; coi trọng điều hành chất lượng”. Quốc hội khóa 13 đã ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 5 2014 về Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ quát nhằm tiến hành ý kiến giáo dục chuyển mạnh từ chủ quản trang bị tri thức sang tăng trưởng toàn diện phẩm giá và năng lực. Quản lý nhà trường theo ý thức tăng quyền tự chủ và phận sự xã hội (quản trị trường học) trở thành bức thiết đối với hiệu trưởng và cán bộ điều hành các trường phổ quát trong cả nước.

1. Quản trị trường học

Quản trị trường học là bí quyết để những người/nhóm người có thẩm quyền (thường là hội đồng) chỉ dẫn, giám sát các tiêu chí, trị giá của nhà trường phê duyệt các cơ chế, quy tắc, cách thức và thứ tự tiến hành. Chi tiết hơn, quản trị trường học: Là giai đoạn xây dựng và tập trung các luật lệ, hệ thống nhằm vận hành và kiểm soát toàn thể hoạt động của 1 nhà trường; Là những phương cách để những người có thẩm quyền chỉ huy chỉ dẫn và giám sát các tiêu chí và trị giá của nhà trường phê duyệt các cơ chế và thứ tự tiến hành.

Nhà quản trị trường học là người chịu phận sự trước nhà trường, số đông và người học về sự tin tưởng, tính thích nghi và hiệu quả chi tiêu điều hành phê duyệt việc phân chia phận sự, nguồn lực và kiểm soát tính hiệu lực và hiệu quả hoạt động của nhà trường.

Quản trị trường học bao hàm các hoạt động như quản trị chiến lược, quản trị hệ thống tổ chức, quản trị nhân công, quản trị các hoạt động giáo dục và huấn luyện, nguồn vốn, hạ tầng, khoa học-công nghệ và dùng cho số đông.

Ở Việt Nam vẫn thường dùng thuật ngữ điều hành nhà trường. Trong xu thế canh tân thiết chế, đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục và huấn luyện theo ý thức giao quyền tự chủ và phận sự giải trình cao hơn đối với nhà trường, cụm từ quản trị trường học được sử dụng càng ngày càng nhiều. Trong văn bản của Đảng, Nhà nước, cụm từ “Quản trị các cơ sở giáo dục” được chính thức sử dụng trong và sau Nghị quyết số 29-NQ/TW Khóa 11.

Quản trị trường học chính là hoạt động điều hành nhà trường vẫn được sử dụng trong văn bản pháp lý, văn bản khoa học và thực tế điều hành mà mang tính tự chủ nội bộ trong nhà trường, cùng nhau tự điều hành lúc được giao quyền tự chủ và phận sự giải trình cao hơn [2]. Quản trị trường học được hiểu gần giống với điều hành nhà trường trong chế độ tự chủ và chịu phận sự xã hội được quy định theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 5 2015 về Quy định chế độ tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập [2].

2. Quản nhà trường trong môi trường tự chủ – 1 yêu cầu tiên quyết của quản trị trường học

Tới những 5 80 của thế kỷ XX, lúc khoa học điều hành đương đại đã được phần mềm thành công trong các công ty thì người ta khởi đầu tin rằng chất lượng giáo dục bắt nguồn từ phương diện ‘thầy giáo với học trò trên lớp học” đang chuyển dần sang phương diện “tổ chức trường học” bao gồm: tổ chức vận hành nhà trường; tổ chức lớp học – thầy giáo – học trò – các đối tác ích lợi liên can. Trên phương diện mới bắt buộc lưu tâm và nhấn mạnh quyền tự chủ của nhà trường như là 1 tổ chức khởi nguồn và cũng là nơi đón chờ kết quả của đổi mới giáo dục để làm nên chất lượng. Với yêu cầu đấy: nhà trường phải là nơi huy động, sử dụng và khai thác nguồn lực 1 cách chủ động nhất; và với tiêu chí vì chất lượng, trung ương phải phân quyền cho cấp dưới.

Tuy nhiên, có nhiều quan điểm cho rằng nếu ủy quyền nhà trường quyền tự chủ sẽ khó đủ quyền lực để khắc phục vấn đề chất lượng vốn rất phức tạp và gieo neo, và 1 phong trào trung gian, số đông quyết sách cũng đã hiện ra. Thực tế trong những 5 80 (thế kỷ XX) và kéo dài nhiều 5 tiếp theo, vấn đề tiến hành “trường học – điều hành tự chủ theo các bề ngoài không giống nhau đã biến thành đề tài trung tâm của canh tân giáo dục ở nhiều non sông (Caldwel, 1990; Davit, 1988; Dimmock, 1993,…) [8].

Nhiều nơi đặt vấn đề và từng bước tiến hành điều hành tự chủ của nhà trường mà những nguyên lý và khuôn khổ có thể chưa hoàn toàn đầy đủ, chỉ biểu lộ trên 1 số ít hoặc nhiều lĩnh vực trong các lĩnh vực cần điều hành (chủ trương, tiêu chí, nhân sự, nguồn vốn, chuyên môn,…).

Các đặc điểm căn bản của điều hành nhà trường trong môi trường tự chủ trách nhiệm xã hội (David, 1989) [8]:

+ Nhà trường là đơn vị quyết định chủ quản những vấn đề liên can tới tiến hành vai trò, sứ mạng, công dụng nhiệm vụ trước, trong và sau lúc vận hành. Từ đấy, cần tăng quyền tự chủ về nguồn vốn và điều hành, hạn chế khống chế từ các cơ quan điều hành nhà nước về giáo dục ở trung ương và địa phương.

+ Quyền sở hữu (hoặc đủ nhân cách và phận sự đại diện quyền sở hữu) là điều kiện chủ quản để canh tân theo hướng tự chủ và phận sự xã hội mà các đối tác hữu dụng ích liên can phải hiệp tác cùng đưa ra quyết sách.

+ Tự chủ phải đi đôi với phận sự xã hội, nhà trường phải có phận sự giải trình với các đối tác liên can (cấp trên, thầy cô giáo, học trò, gia đình và số đông) về chất lượng giáo dục, hiệu quả điều hành, tính an toàn của môi trường giáo dục, cơ chế cơ chế và những vấn đề nhưng học trò, gia đình, số đông xã hội chờ đợi ở nhà trường.

Nhà trường là đơn vị quyết định chủ quản trên các mặt:

+ Quyết định tiêu chí, sứ mạng, quyết định biện pháp tiến hành công dụng nhiệm vụ của nhà trường các quy định đã ban hành.

+ Tự chủ yếu lý giai đoạn giáo dục theo chương trình giáo dục quy định.

+ Tự chủ về tuyển dụng và điều hành nhân sự và thầy cô giáo.

+ Tự chủ về điều hành, sử dụng nguồn ngân sách được cấp từ phía nhà nước, chủ động huy động và sử dụng nguồn lực trong phạm vi luật pháp cho phép

+ Trên mỗi loại hình sở hữu, các đối tác hữu dụng ích liên can hiệp tác, đưa ra các quyết sách theo chế độ hội đồng.

Tự chủ phải đi đôi với phận sự xã hội – phận sự giải trình.

3. Quản trị trường học trước yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đào tạo

Làm thế nào để tiến hành quản trị các cơ sở giáo dục, các trường phổ quát theo ý thức Nghị quyết số 29-NQ/TW: “đảm bảo dân chủ, hợp nhất; tăng quyền tự chủ và phận sự xã hội của các cơ sở giáo dục, huấn luyện; coi trọng điều hành chất lượng” [3].

Thứ nhất: cần hệ thống biện pháp điều hành đồng bộ liên can tới các thành tố căn bản của nhà trường.

+ Hiệu trưởng và mọi thầy cô giáo nắm vững ý kiến, tiêu chí, nội dung, cách thức đổi mới chương trình giáo dục.

+ Quản lý cung ứng tăng lên năng lực thầy cô giáo trong hoạt động giáo dục.

+ Đổi mới mẫu hình tổ chức hoạt động trong bộ máy lãnh điều hành và trong nhà trường.

+ Xác lập vai trò của hội đồng trường theo ý thức dân chủ, hợp nhất tăng quyền tự chủ và giám sát phận sự xã hội của nhà trường. Hội đồng trường là đại diện chủ nhân, đại diện ý thức tăng trưởng, đại diện giải trình của nhà trường.

+ Xây dựng văn hóa nhà trường tạo sự cam kết và dính kết.

+ Tận dụng sự cung ứng của công nghệ thông tin và truyền thông.

Thứ 2: phân định công tác quản nhà nước với quản trị của sở giáo dục đào tạo.

+ Phân định rõ phận sự và quyền hạn của các cơ quan điều hành giáo dục địa phương theo hướng chuyển dần vai trò từ lãnh đạo, kiểm soát chặt chẽ sang giao quyền, cung ứng và giám sát.

+ Thực sự thật hiện mẫu hình điều hành lấy nhà trường làm cơ sở.

+ Xác lập vai trò bản chất của hội đồng trường là đại diện chủ nhân, đại diện ý thức tăng trưởng và đại diện giải trình.

4. Năng lực quản trị trường học trước yêu cầu đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục và đào tạo

4.1. Năng lực quản trị trường học

Như đã nói ở trên, quản trị trường học được hiểu gần giống với điều hành nhà trường trong chế độ tự chủ và chịu phận sự xã hội được quy định theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP.

Năng lực là đặc điểm tư nhân trình bày độ tinh thông, trình bày sự thành thạo vững chắc 1 hay 1 số hoạt động nào đấy. Năng lực gắn với phẩm giá, sự ghi nhớ, tính mẫn cảm, trí não tư nhân. Năng lực có thể tăng trưởng trên cơ sở năng khiếu song không hề là bẩm sinh nhưng là kết quả của tăng trưởng xã hội.

“Năng lực là 1 tập trung các tri thức, kĩ năng và thái độ liên can với nhau có thể tác động to đến bản lĩnh xong xuôi công tác hay kết quả của 1 tư nhân, có thể được đo lường phê duyệt các chuẩn nhưng số đông chấp thuận và có thể được cải tiến phê duyệt các hoạt động huấn luyện, bồi dưỡng” (Parry, 1998); Năng lực là bản lĩnh, điều kiện chủ quan hoặc thiên nhiên sẵn có để tiến hành 1 hoạt động nào đấy; Năng lực là phẩm giá tâm lý và sinh lý tạo cho con người bản lĩnh xong xuôi 1 hoạt động nào đấy với chất lượng cao; Năng lực của nhà điều hành là sự hòa trộn tri thức, kỹ năng, ý kiến thái độ và cả niềm tin giúp người đấy tiến hành có hiệu quả hoạt động điều hành; Năng lực điều hành ko chỉ có tri thức, kỹ năng, thái độ nhưng nó còn được trình bày qua kết quả hoạt động.

Năng lực quản trị trường học chính là năng lực của nhà điều hành nhà trường theo chế độ tự chủ và chịu phận sự xã hội.

4.2. Năng lực quản trị trường học 1 số cách tiếp cận

  • Tiếpcận từ tổng kết thực tiễn các hình quản

Từ việc tổng kết thực tế điều hành các tổ chức, các đơn vị thành các mẫu hình [5]: Mẫu hình tiêu chí cân đối; Mẫu hình xử lý nội bộ; Mẫu hình quan hệ con người; Mẫu hình hệ thống mở. Các mẫu hình có sự tăng trưởng liên kết đan xen nhau và chỉ ra rằng công việc điều hành có 4 vấn đề then chốt:

+ Đặt tiêu chí và hướng tới tiêu chí.

+ Tổ chức và xử lý tương tác bên trong tổ chức.

+ Xây dựng và tăng trưởng mối quan hệ con người.

+ Mở mang kết hợp và hiệp tác.

Thực hiện nhiệm vụ đặt tiêu chí và hướng tới tiêu chí, người điều hành phải là người chỉ đạo và tiến hành.

Để xử lý thứ tự bên trong, người điều hành phải là người giám sát và điều phối. Gicửa ải quyết các mối quan hệ con người, người điều hành phải là người chỉ dẫn và xúc tiến. Mở mang mối kết hợp hiệp tác, người điều hành cần phải là người môi giới và đổi mới.

Nhà quản trị trường học phải là:

+ Người chỉ đạo và tiến hành tiêu chí chiến lược của nhà trường.

+ Người giám sát và điều phối tiến hành công dụng nhiệm vụ của nhà trường.

+ Người chỉ dẫn và xúc tiến để khắc phục các mối quan hệ về con người để đảm bảo tính đồng thuận và hợp nhất hướng đến tiêu chí chung là tăng trưởng chất lượng giáo dục.

+ Người môi giới và đổi mới để mở mang sự kết hợp và hiệp tác trong và ngoài nhà trường.

  • Quan điểm quản lý chất lượng: chiến lược đúng tác nghiệp giỏi

Nhóm 1: Nền tảng cơ bản.

+ Giao tiếp hiệu quả phê duyệt tất cả các bề ngoài nói, viết và nhìn.

+ Tôn trọng và làm theo các chuẩn mực đạo đức và luật pháp.

+ Duy trì màng lưới các quan hệ để tương trợ cho công dụng huấn luyện.

+ Cập nhật và cải thiện những tri thức chuyên môn và nghề nghiệp, cũng như kĩ năng và thái độ.

Nhóm 2: Lên kế hoạch và phân tách.

+ Phát triển và theo dõi 1 kế hoạch chiến lược.

+ Sử dụng các bản lĩnh phân tách để cải thiện tính tổ chức.

+ Kế hoạch và khuyến khích những sự chỉnh sửa trong tổ chức.

+ Kĩ năng và thái độ.

Nhóm 3: Thiết kế và tăng trưởng.

+ Vận dụng những nguyên lý thiết kế trong hệ thống giảng dạy vào dự án và huấn luyện.

+ Sử dụng công nghệ để tăng lên công dụng điều hành huấn luyện.

+ Bình chọn những cách thức trong giáo dục.

Nhóm 4: Kỹ năng điều hành.

+ Vận dụng những kĩ năng chỉ huy vào nhiệm vụ giáo dục và huấn luyện.

+ Vận dụng những kĩ năng điều hành vào nhiệm vụ giáo dục và huấn luyện.

+ Vận dụng những kĩ năng kinh doanh vào nhiệm vụ giáo dục và huấn luyện.

+ Xây dựng các biện pháp cho tri thức về điều hành giáo dục.

Nhà điều hành thành công là người có chiến lược đúng và tác nghiệp giỏi (tác nghiệp điều hành và điều hành tác nghiệp). Nhóm 1 như là các điều kiện cần, nhóm 2 là chiến lược, nhóm 4 là kĩ năng tác nghiệp và nhóm 3 là cầu nối từ chiến lược sang tác nghiệp.

Đề xuất năng lực căn bản đối với nhà quản trị trường học đặt trong chế độ và môi trường điều hành vận hành tăng trưởng kinh tế – xã hội hiện tại với đặc biệt là chuyển phương thức lãnh đạo điều hành tập hợp sang việc giao quyền tự chủ và tự chịu phận sự của đơn vị cơ sở.

Đề xuất đối với công việc quản trị trường học phải dựa trên quan niệm về nhà trường và các quan hệ điều hành như sau:

+ Đơn vị điều hành căn bản: nhà trường.

+ Nội dung điều hành căn bản: chất lượng và công bình.

+ Nguyên tắc điều hành căn bản là: dân chủ và sáng tỏ.

+ Vai trò điều hành căn bản là: Hiệu trưởng.

+ Quan hệ điều hành căn bản là: phối hợp.

Cũng như điều hành 1 công ty, điều hành 1 trường phổ quát có 2 thành tố quan trọng nhất đấy là chiến lược và tác nghiệp.

Đối với nhà trường vai trò điều hành căn bản là hiệu trưởng. Hiệu trưởng phải có 1 chiến lược đúng, có bản lĩnh tác nghiệp hiệu quả trên nền móng những những phẩm giá và năng lực căn bản (trí lực tư nhân).

Phẩm chất và năng lực căn bản và bản lĩnh tác nghiệp làm cơ sở được áp dụng thường xuyên vào việc thiết kế tổ chức tiến hành các chương trình, các dự án, các phương án hành động để đạt được tiêu chí chiến lược và các tiêu chí chi tiết.

Khung năng lực quản trị trường học đối với các nhà quản trị trường học phổ quát Việt Nam.

Đối với Việt Nam và nhiều nước khác, theo truyền thống và các quy định, các nhà quản trị trường học trước tiên phải là nhà giáo có uy tín. Trên cơ sở tham khảo các cách tiếp cận không giống nhau và căn cứ vào thực tiễn nước ta, lúc xây dựng chuẩn hiệu trưởng (TT29/ 2010/ TT-BGDĐT) [1], quan niệm hiệu trưởng là nhà giáo (có năng lực nghề nghiệp căn bản), nhà chỉ huy (có tầm nhìn chiến lược đúng) và nhà điều hành (có bản lĩnh tác nghiệp và điều hành tác nghiệp).

Hiện nay Chuẩn hiệu trưởng của các trường phổ quát đang được thực hiện biên tập cho thích hợp với bối cảnh mới và sẵn sàng ban hành thông tư mới. Chuẩn hiệu trưởng có mục tiêu tăng trưởng năng lực chỉ huy và quản trị trường học của cán bộ điều hành trường phổ quát hướng tới sự thành công trong học tập của học trò.

Các tiếp cận đương đại của các nước có nền giáo dục hiện đại đều có điểm chung là: Các tiêu chuẩn Hiệu trưởng trình bày mối quan hệ giữa chỉ huy trường học và kết quả học tập của học trò. Hiệu trưởng phải tập hợp vào việc làm thế nào để xúc tiến việc học tập, thành tựu, tăng trưởng và thành công của mỗi học trò (Hoa Kỳ); Chuẩn Hiệu trưởng có mục tiêu cung ứng tăng trưởng năng lực chỉ huy và điều hành trường học của Hiệu trưởng để thành công trong tiến hành nhiệm vụ, bao gồm: Tăng lên thành tựu học trò; Tăng mạnh đồng đẳng; xây dựng và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng dạy học tân tiến mạnh bạo; cung ứng tăng trưởng giáo dục cho số đông theo cơ chế giáo dục; đóng góp vào sự tăng trưởng của giáo dục địa phương, non sông và quốc tế (Úc).

  • Xây dựng chuẩn Hiệu trưởng phải dựa trên khung năng lực chỉ huy và điều hành trường học của Hiệu trưởng, tức: bản lĩnh chỉ huy và điều hành trường học để đạt tiêu chí giáo dục học trò, tăng trưởng nhà trường trong từng bối cảnh, lĩnh vực chi tiết.
  • Chuẩn dùng để xúc tiến hiệu trưởng học tập tăng trưởng năng lực tiến hành nhiệm vụ chỉ huy nhà trường.
  • Chuẩn Hiệu trưởng dùng để bình chọn được bản chất chất lượng hàng ngũ tại thời khắc bình chọn, để định hướng tăng trưởng hàng ngũ công đoạn tiếp theo.
  • Chuẩn dùng để Hiệu trưởng tự định vị năng lực, tự bình chọn và tự định hướng tăng trưởng nghề nghiệp.
  • Chuẩn dùng để các cơ quan điều hành, nhà hoạch định cơ chế, cơ sở huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ điều hành giáo dục bình chọn thực trạng hàng ngũ và đề nghị biện pháp thích hợp trong chỉ huy, điều hành, cung ứng tăng trưởng nghề nghiệp cho hàng ngũ thầy cô giáo.

Hệ thống năng lực của Hiệu trưởng: Theo mẫu hình T-Shape.

  • Năng lực chung: Năng lực tuân thủ luật pháp, tăng trưởng bản thân, giao tiếp, công nghệ thông tin và truyền thông,…
  • Năng lực chuyên môn sâu: Năng lực chỉ huy và điều hành nhà trường; Năng lực gắn kết nhà trường với gia đình, số đông.

Định hướng, nguyên lý, đề xuất đổi mới điều hành khai triển tiến hành trong mẫu hình nhà trường định hướng tăng trưởng năng lực đặt ra cho các hiệu trưởng và cán bộ điều hành các cơ sở giáo dục phải đổi mới “hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục huấn luyện” (NQ số 29-NQ/TW).

Từ bài học kinh nghiệm trong điều hành khai triển tiến hành điều hành nhà trường lúc chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận tăng trưởng năng lực trong hơn 10 5 qua của tất cả các nước [5;6;7] và những vấn đề đặt ra lúc đổi mới chương trình giáo dục phổ quát, những vấn đề then chốt nhưng hiệu trưởng và cán bộ điều hành trường phổ quát cần hướng đến là:

  • Hướng đến sự đổi mới trong sự kế thừa và tư duy lại về bí quyết điều hành nhà trường.
  • Cung cấp sự chỉ huy theo tiếp cận định hướng tăng trưởng năng lực cho thầy cô giáo, viên chức và những người trực tiếp tiến hành chương trình.
  • Chỉ đạo điều hành dạy học trong mẫu hình nhà trường tăng trưởng năng lực.
  • Có động lực, cam kết và biết chỉnh sửa.

Và bao trùm, xuyên suốt tất cả là: Đạo đức, sự nhiệt tình và động lực của hiệu trưởng và cán bộ điều hành.

5. Kết luận

Trong bối cảnh thế giới hiện tại, giáo dục sẽ phải bắt nhịp với sự chuyển mình mạnh bạo và đề xuất những người đứng đầu phải có tri thức, kỹ năng của 1 nhà điều hành. Do đấy, vấn đề tăng trưởng các năng lực tổ chức, huấn luyện bồi dưỡng, tham mưu cung ứng và tham dự giám sát công việc quản trị trường phổ quát được đặt ra như 1 nhu cầu cần thiết, góp phần quan trọng trong đổi mới công việc quản trị các cơ sở giáo dục theo ý thức đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục của tổ quốc.

Mời độc giả cùng tham khảo thêm tại mục giáo dục huấn luyện trong mục biểu mẫu nhé.

  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 01
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 02
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Tiểu học đầy đủ 45 Module

#Bài #thu #hoạch #bồi #dưỡng #thường #xuyên #cán #bộ #quản #lý #QLPT

Vik News

Lê Thị Thanh Loan

Cô giáo Lê Thị Thanh Loan tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Hiện nay, Cô đang giảng dạy tại trường Trường tiểu học Văn Thủy

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button