Lớp 10

Cảm nhận về đoạn Trao duyên

cam nhan ve doan trao duyen

3 Bài văn mẫu Cảm nhận về đoạn Trao duyên

Bạn đang xem bài: Cảm nhận về đoạn Trao duyên

I. Dàn ýCảm nhận về đoạn trích Trao duyên (Chuẩn

1. Mở bài:

– Giới thiệu tác phẩm và đoạn trích

2. Thân bài:

a. Vị trí đoạn trích:

– Nằm ở đoạn đầu phần hai Gia biến và lưu lạc, từ câu 723 đến câu 734.
– Sau khi gia đình gặp biến cố, Thuý Kiều bán mình cứu cha và em, trước đêm ra đi, nàng gặp em gái là Thuý Vân, nhờ Vân trả duyên cho người yêu minh là Kim Trọng.

b. Cảm nhận đoạn trích:

* Lời cậy nhờ của Thuý Kiều:

– Lời lẽ trao duyên “Cậy em em có chịu lời”
+ Mở lời bằng chữ “cậy”: sự nhờ vả, gửi gắm, mang âm điệu nặng nề, gợi lên sự trăn trở, đau khổ của Kiều.
+ “Chịu”: mang sắc thái nài nỉ, thúc ép….(Còn tiếp)

>> Xem chi tiết Dàn ý Cảm nhận về đoạn trích Trao duyên tại đây.

II. Bài văn mẫuCảm nhận về đoạn trích Trao duyên

1.Cảm nhận về đoạn Trao duyên, mẫu số 1 (Chuẩn):

Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du là bức tranh xã hội phong kiến thối nát với những bất công đày đọa con người, đặc biệt là với người phụ nữ. Nhân vật chính trong tác phẩm là Vương Thuý Kiều – một cô gái vừa tròn tuổi cập kê, nhan sắc và tài năng vẹn toàn. Trong một lần đi chơi xuân, nàng đã tình cờ gặp gỡ và bén duyên cùng Kim Trọng – chàng công tử hào hoa phong nhã. Hai người đã cùng nhau đính ước và thề nguyền dưới trăng. Thế nhưng, sóng gió gia đình ập tới, khiến nàng buộc lòng phải bán mình cứu cha và em trai. Vậy nên, vào đêm trước ngày ra đi, Thuý Kiều đã cậy nhờ người em gái của mình trả nghĩa cho Kim Trọng. Đoạn trích Trao duyên đã thuật lại diễn biến của đêm trao duyên ấy đồng thời cũng diễn tả tâm trạng giằng xé của Thuý Kiều khi phải trao đi mối tình sâu đậm.

Đoạn trích Trao duyên nằm ở đoạn đầu phần hai Gia biến và lưu lạc trong tác phẩm, từ câu 723 đến câu 734 của tác phẩm Truyện Kiều. Sau đêm thề nguyền hẹn ước cùng nhau, Kim Trọng phải về quê để chịu tang chú. Đúng lúc đó, gia đình Kiều gặp gia biến, cha và em trai nàng bị bắt vào ngục. Để cứu được cha và em, nàng phải “bán mình” lấy bốn trăm lạng vàng. Thế nhưng, nhớ tới mối tình đầu sâu nặng với chàng Kim cùng lời hẹn thề dưới trăng hôm ấy, Kiều không muốn phụ tấm lòng của tình lang, vậy nên, nàng đã cậy nhờ Thuý Vân – em gái của mình thay mình kết duyên, trả nghĩa cho Kim Trọng để giữ đúng lời hẹn thề của hai người.

Chuyện tình yêu của Kiều và Kim Trọng là câu chuyện tình trong bí mật, chuyện riêng của Kiều, Thuý Vân cũng không hề hay biết. Thế nhưng giờ đây, khi nàng tâm sự với em chuyện tình cảm của mình thì lại là lời ngỏ để em thay mình trả nghĩa, nên duyên cùng người yêu của mình. Chỉ vậy thôi, nghe cũng xót xa, đau đớn vô cùng! Thuý Kiều đã mở lời với em gái mình trong sự e ngại, lấp lửng, “rào trước đón sau”:

“Cậy em, em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”.

Vốn là chị, là bậc bề trên với Thuý Vân, thế nhưng, mỗi lời nói, hành động của Kiều lúc này lại như là một kẻ bề dưới đang khẩn cầu em gái mình. Đầu tiên, Kiều mở lời bằng hai tiếng “cậy em”. “Cậy em” chứ không phải “nhờ em”, một từ “cậy” thôi nhưng mang sức nặng vô cùng, mang trong đó là sự khẩn thiết vô hạn của nàng. Thuý Kiều “cậy” nhờ em gái, không biết em có “chịu lời” hay không, nhưng câu nói của nàng như có một sức nặng khiến cho Thuý Vân khó có thể chối từ. Tiếp đó, Kiều còn dùng hành động “lạy rồi sẽ thưa” để tỏ bày sự kính cẩn đối với Vân. Đây là hành động bất thường, mang tính trang trọng, nghiêm túc vô cùng. Bởi Kiều là chị sao có thể quỳ lạy với em gái mình? Thế nhưng, nếu xét ở trường hợp này thì điều đó cũng là lẽ thường tình bởi Kiều đã xem Vân như ân nhân của mình, là người cứu vớt duy nhất cho tình yêu của đời nàng. Em gái cũng là nơi duy nhất mà Kiều có thể gửi gắm tấm chân tình và bằng hành động, lời nói như thế, Thuý Vân sẽ khó lòng có thể từ chối lời nhờ cậy của chị gái mình. Ở đây, người đọc có thể thấy được sự khéo léo, sự tinh tế trong cách nói chuyện của Kiều, có thể thấy, nàng quả là một người con gái vô cùng thông minh, sắc sảo, dù trong lòng nàng đang bị giằng xé bởi bao nhiêu nỗi đau, nàng vẫn tỏ ra là một người thiếu nữ vẹn toàn.

Sau khi bày tỏ tấm lòng mình với sự thành kính với em gái, Kiều lại tiếp tục kể cho em nghe về mối tình đầu của mình:

“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”

Chuyện tình cảm của nàng với chàng Kim vốn là một câu chuyện tình yêu tuyệt đẹp, nàng tài sắc còn chàng thì hào hoa. Thế nhưng, sóng gió đã khiến cho câu chuyện tình yêu vừa chớm nở ấy phải vụt tắt, phải “đứt gánh tương tư” giữa chặng đường tuổi xuân. Mặc dù có nỗi khổ riêng và vô cùng đau khổ nhưng việc nàng phụ Kim Trọng là một sự thật không thể chối cãi, thế nên Kiều đành nhờ Vân “chắp mối tơ thừa” này thay cho nàng. Khi thấy Thuý Vân còn đang ngơ ngác, chưa hiểu mọi sự thì Kiều lại lên tiếng kể về mối tình của mình, mong em gái sẽ hiểu cho lý do mà nàng làm như thế mà chấp nhận mối duyên mà Kiều trao gửi:

“Kể từ khi gặp chàng Kim ,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”

Nàng kể về tình yêu của mình, từ lúc gặp gỡ cho tới lúc hẹn thề, tất cả đều đẹp như mơ. Có lẽ trong khoảnh khắc này, Kiều cũng đã mỉm cười hạnh phúc, bởi nàng đã có những phút giây tươi đẹp bên cạnh người mình yêu thương. Thế nhưng, càng hạnh phúc bao nhiêu thì nàng lại càng đau đớn bấy nhiêu bởi “sự đâu sóng gió bất kì”. Sóng gió ập tới quá bất ngờ khiến cho nàng buộc lòng phải rời xa tình yêu đầu thắm thiết, nàng chẳng có cách nào vẹn toàn cả chữ hiếu và chữ tình. Vậy nên, nàng buộc lòng phải phụ tình Kim Trọng, nhưng Kiều là người hiểu đạo nghĩa, cũng là người con gái thấu tình đạt lý, nên trong giờ phút này, mặc dù đau xót, nhưng chỉ có em gái là người có thể giúp nàng san sẻ tâm tình cũng như trả nghĩa cho Kim Trọng. Kiều viện tới lý do rằng “ngày xuân em hãy còn dài” tức là thanh xuân của Vân còn đang rực rỡ, Vân hãy vì nàng mà nhận lấy mối duyên này. Được như thế thì dù có chết, Kiều cũng “ngậm cười” nơi chín suối. Những câu nói mang đầy những nỗi tủi hờn, những niềm đau xót và cả dự cảm về một tương lai chẳng lành đầy oan trái của Kiều như thế làm sao một người làm em như Vân lại có thể từ chối đây?

cam nhan ve doan trao duyen 1

Những bàiCảm nhận về đoạn trích Trao duyên hay nhất

Tình yêu là những lời hẹn thề, là những kỉ niệm và kỉ vật trao cho nhau. Kỷ vật là thứ mà mỗi khi nhớ người tình, ta thường hay đem ra ngắm để “nhìn vật mà nhớ người”. Thế nhưng, giờ đây, Kiều đã quyết định trao đi tình yêu của mình, nên nàng cũng đành phải trao đi kỷ vật tình yêu mà nàng trân trọng vô cùng:

“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên!
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.”

Trao đi kỷ vật tình yêu cũng là trao đi hết tất cả những gì còn lại của mối duyên này. Điều này cho thấy Kiều không chỉ trao duyên cho Vân vì chút nợ ân tình với Kim Trọng mà còn là trao đi bằng cả sự trân trọng tình yêu của mình. Nàng luôn giữ những kỷ vật này bằng sự nâng niu, trân quý thiêng liêng, nhưng giờ đây khi đã nhờ cậy em gái trả nghĩa cho tình lang của mình, nàng muốn trao cả tín vật tình yêu của nàng cho trọn vẹn, dù rằng trong lòng nàng đau khổ và giằng xé bao nhiêu. “Chiếc vành với bức tờ mây”, “phím đàn với mảnh hương nguyền”, tất cả nàng đều trao lại cho em trong sự nuối tiếc, day dứt, dằn vặt. Chẳng vậy mà Kiều dặn em rằng: “Duyên này thì giữ, vật này của chung”. Nàng trao duyên, trao đi tín vật tình yêu, thế nhưng trong lòng nàng là biết bao sự giằng xé. Tình duyên giờ là của Vân, thế nhưng tín vật này là của chung ba người. Phải chăng, Kiều nuối tiếc, trăn trở, đau khổ và giằng xé vô cùng trước nỗi đau phải trao đi tình yêu, nàng vẫn còn muốn giữ lại cho mình chút gì đó về mối tình đậm sâu này chăng?

Hơn thế, Kiều còn dặn dò em gái đừng quên mình, quên người chị “bạc mệnh” này, khi nhìn những kỷ vật này, hãy nhớ tới nàng. Những lời nói chứa đầy sự ảm đạm, sự thê lương, như lời dặn dò của một người sắp rời xa thế gian. Ẩn chứa trong đó dường như là sự dự cảm không lành của Kiều về cuộc đời sóng gió của mình phía trước, sự tuyệt vọng với số phận của chính mình.

Dù rằng Kiều ra đi là để theo chồng, thế nhưng, những câu nói của Kiều lại như một lời dặn dò em gái trước khi nàng rời xa thế giới này:

“Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ gió cây,
Thấy hiu hiu gió, thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt, khuất lời,
Rảy xin chén nước cho người thác oan.”

Những câu nói của Kiều chứa đầy nỗi tuyệt vọng dù rằng nàng chỉ đang bán thân làm lẽ cho người. Có lẽ bởi vì với nàng, tuổi xuân đã chấm dứt, bao nhiêu mơ ước, khát khao đều bị chôn vùi. Nhớ về số phận của Đạm Tiên mà nàng đã vô tình bắt gặp trong tiết thanh minh, nàng càng có dự cảm không lành cho số phận của mình. Trong tâm nàng, tất cả mọi hi vọng vụt tắt, chỉ còn nỗi đau mất đi tình yêu, sự tăm tối khi nhìn về tương lai phía trước, có lẽ những điều đó đã khiến nàng nghĩ về cái chết nhiều hơn là một cuộc sống bình thường. Thế nhưng, dù là trong đau khổ, trong dự cảm chẳng lành như thế, Kiều vẫn mang Vân có được một cuộc sống yên bình, hạnh phúc, và dù nàng có ở thế giới bên kia, nàng cũng chỉ xin Vân “rảy xin chén nước” cho người chị bạc mệnh này. Từng lời nói của Kiều có thể cho thấy nàng là người con gái hết sức thấu hiểu lí lẽ, hết sức thông minh, chu toàn mọi sự, dù trong đau khổ, xót xa, giằng xé vì phải trao tình yêu của mình, nàng cũng không hề oán trách, không hề tức giận.

Tất cả những điều cần dặn dò, Kiều đã dặn lại hết cho Vân. Sau đó, Vân rời đi, còn lại mình Kiều trong căn phòng, giờ đây, mọi cảm xúc trong tâm nàng mới bùng lên thật mạnh mẽ. Những nỗi đau đơn, xót xa giờ đây mới được bộc lộ ra thật rõ ràng, vỡ oà trong tức tưởi:

“Bây giờ trâm gãy bình tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phân sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

Kiểu hiểu tình thế mà mình đang phải đối mặt, nàng chấp nhận số phận rằng nàng và Kim Trọng phải rời xa nhau “trâm gãy bình tan”, nàng phải phụ lòng chàng. Vốn tưởng là một chuyện tình đẹp như mơ với đôi trai tài gái sắc, thế nhưng chỉ vì một cơn sóng gió đã phá huỷ tất cả mọi hy vọng của nàng. Những phút giây hạnh phúc chỉ là chút “tơ duyên ngắn ngủi”, đành gửi lại tình lang của mình. Trái tim Kiều quặn thắt trong đau đớn, những giọt nước mắt xót xa cho mối duyên tình vừa chớm đã đành bạc mệnh lìa đời. Đứng giữa bên hiếu bên tình, Kiều cũng chỉ đành “trăm nghìn gửi lạy tình quân”, dù rằng nàng vô cùng tiếc nuối cũng vô cùng hổ thẹn và xấu hổ khi đã bội ước với chàng. Dù đã nhờ cậy Thuý Vân trả duyên cho Kim Trọng, nhưng Kiều vẫn cảm thấy có lỗi vô cùng. Chỉ từng ấy thôi cũng có thể thấy tình cảm mà nàng dành cho Kim Trọng sâu sắc và thắm thiết đến nhường nào, với nàng, tình yêu ấy vô cùng thiêng liêng và quý giá, phải trao đi là sự tiếc nuối, đau đớn nhất trong đời của nàng.

Nếu như từ đầu đến giờ, ta chưa từng thấy Kiều có một câu oán trách số phận trước mặt Vân thì giờ đây Kiều lên tiếng oán trách số phận mình:

“Phân sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.”

Nàng oán trách nhưng cũng đành bất lực trước sự ngang trái của xã hội, của số phận mình. Một cô gái tài sắc vẹn toàn như nàng nhưng giờ đây cũng đành xót xa, buông xuôi số phận trong bế tắc, đau khổ và tủi nhục khi phải làm phận thiếp lẽ cho người, phải tự tay cắt đi mối nhân duyên đẹp đẽ. Nỗi đau xót vô bờ ấy cùng với nỗi đau uất ức khỉ phải chia lìa Kim Trọng đã khiến nàng phải thốt lên trong vô vọng:

“Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

Tiếng kêu thảm thương ấy là lời mở đầu cho chuỗi mười lăm năm lưu lạc trong biến cố, lênh đênh vô định của cuộc đời người con gái mang tên Vương Thuý Kiều.

Đoạn trích Trao duyên là trích đoạn mở đầu của cuộc sống lưu lạc của Thuý Kiều sau này. Bằng tài năng sử dụng ngôn từ của mình, Nguyễn Du đã thể hiện cho chúng ta hình ảnh của một Thuý Kiều thông minh, sắc sảo hơn người qua từng câu nói thuyết phục em gái khi trao duyên, đồng thời cũng làm rõ tâm trạng giằng xé phức tạp của nàng khi buộc phải trao đi mối duyên đầu. Qua đó, ta hiểu được tình cảm sâu đậm của Kiều dành cho Kim Trọng cũng như những dự cảm không lành cho tương lai của mình. Đoạn trích cũng làm nổi bật tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du khi ông đã cảm thông với số phận bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ và trân trọng những phẩm chất đáng quý của họ.

2.Cảm nhận về đoạn Trao duyên, mẫu 2 (Chuẩn)

Truyện Kiều là một tác phẩm bất hủ của Nguyễn Du nói riêng và nền văn học nước nhà nói chung. Đoạn “Trao duyên” trích trong tác phẩm là đoạn đặc sắc khắc họa thành công dòng tâm trạng của Thuý Kiều khi ngậm ngùi trao duyên cho em gái Thuý Vân.

Theo mạch truyện, nguyện ước kết duyên trăm năm của Thúy Kiều và Kim Trọng chưa được bao lâu thì tai biến xảy đến với gia đình Kiều. Không đành lòng trước sự khổ sở mà cha và em phải gánh chịu, Kiều quyết định bán mình để cứu gia đình. Mọi việc dường như đã xong xuôi, Kiều thức trắng đêm nghĩ đến chàng Kim và tình yêu mặn nồng cùng chàng, vừa day dứt vừa tiếc nuối, Kiều đành cậy nhờ em gái kết duyên với Kim. Đoạn trích từ câu 723 đến câu 756 của tác phẩm:

Thuý Kiều mở lời với em:

” Cậy em em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.”

Cả cử chỉ và lời nói của Kiều đều chung một niềm trông mong, nhờ cậy. Hành động “lạy” em của Kiều đã đặt Thúy Vân vào tình huống khó có thể chối từ đồng thời cũng là dấu hiệu cho thấy việc mà Kiều sắp nói với Vân đây là vô cùng hệ trọng:

“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”

Thành ngữ “đứt gánh tương tư” được tác giả vận dụng thể hiện có ý chỉ tình yêu dang dở của Kiều -Kim. Tình cảm của hai người vừa mới chớm nở, chưa kịp tới ngày viên mãn thì đành ‘đứt gánh”, sóng gió ập tới. Chấp nhận dở dang, Kiều ngậm ngùi trong khổ đau trao lại cho em mối “tơ thừa”. Kiều hiểu được sự thiệt thòi của Vân khi nhận chắp mối duyên với Kim Trọng, bởi dù với Kiều đó là tình yêu đẹp thì với Vân đó chỉ là mối “tơ thừa” mà thôi. Hai từ mặc em được tác giả đặt cuối câu cho thấy Kiều đang đặt hết kỳ vọng vào Vân, mong Vân thay mình làm vẹn tròn nghĩa nặng với chàng Kim.

Lời đã nói ra nhưng nào dễ trút đi những nỗi niềm trong tâm khảm. Dằn lòng mình, Kiều tâm sự với em những kỉ niệm đẹp của mối tình với Kim:

“Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề.”

Điệp từ “khi” được sử dụng như càng khẳng định tình cảm sắt son của Kiều và Kim Trọng. Họ đã gặp gỡ, hẹn hò, cùng nhau ước nguyện, uống chén rượu giao bôi. Đang sống trong những kỉ niệm đẹp, Kiều lại trở về với hiện thực phũ phàng, cay đắng:

“Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.”

Cơn sóng gió ập tới bất ngờ khiến Kiều và gia đình lâm vào nguy biến. Giữa chữ hiếu với gia đình và chữ tình với Kim Trọng, nàng đã chọn chữ hiếu- bán mình để cứu cha và em. Nhưng vẹn đạo làm con, nàng đành buông tay với mối tình dang dở, trở thành kẻ phụ tình. Nàng nghĩ về tình yêu với chàng Kim, không muốn Kim phải chịu sự khổ đau như mình đang gặm nhấm, đành nhờ cậy Vân. Để thuyết phục em thêm, Kiều thủ thỉ:

“Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”

Bốn câu thơ thốt lên bằng tất cả niềm hy vọng, sự mong cầu, bốn câu thơ như là một lời cầu xin tha thiết tự tận đáy lòng của Kiều. Sự thông minh của Kiều là khéo léo lấy niềm vui của mình được “thơm lây” nơi chín suối nhằm khiến Thúy Vân có không muốn cũng không thể chối từ. Hơn nữa, với Vân, những ngày tháng thanh xuân còn dài, Vân còn tuổi trẻ, còn thời gian còn với Kiều thì bán thân coi như là chấm dứt tuổi trẻ, chôn vùi thanh xuân của mình. Những lý do của Kiều đưa ra vừa hợp lẽ, hợp tình khiến Vân nào thể không nhận lời nhờ cậy từ người chị đáng thương.

Khi trao “chút của tin” – chiếc vành với bức tờ mây, Thúy Kiều nhớ đến đêm thề nguyền trong quá khứ, vừa thương tiếc vừa xót xa khôn nguôi, Kiều ngậm ngùi với nỗi đau đớn tột cùng:

“Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.”

Trao kỷ vật cho em mà lòng đau như cắt, mâu thuẫn trong nội tâm nàng lên đến đỉnh điểm, tay muốn trao mà lòng không nỡ. Đó là sự mâu thuẫn giữa thân phận và nhân cách, giữa lí trí và tình cảm nơi Kiều. Có lẽ với nàng lúc này đây, tình chưa cạn mà đành phải dứt là nỗi đau khôn cùng, sống mà không có được hạnh phúc thì khác gì không tồn tại, vì vậy mà cái chết cứ ám ảnh trong tâm trí nàng.

Sáu câu cuối đoạn trích là lời độc thoại đầy thổn thức của Kiều. Nàng như quên hẳn mình đang trò chuyện với Vân mà sống trong tâm trạng của chính mình, lời day dứt thốt lên trong nỗi mặc cảm phụ tình:

“Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phận sao, phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”.

Kiều gửi trăm nghìn lạy cho tình quân của mình là hành động tạ từ tha thiết, chân thành, là cái cúi chào tạm biệt trong nỗi đau chia ly. Tơ duyên tưởng sẽ dài lâu, bền đẹp nào ngờ “ngắn ngủi” giữa đoạn đường. Kiều trách phận mình bạc bỗi như vôi trầu, như hoa chảy bèo trôi giữa dòng, đành chấp nhận tình lỡ làng, xa cách. Thành ngữ “bạc như vôi” cất lên trong tiếng đau thương rỉ máu của Kiều nghe sao xót xa, bi ai đến phẫn cực.

“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

Đến cuối cùng, Kiều vẫn nghĩ cho người khác. Nỗi đau mà nàng đang chịu vô bờ mà vẫn tự trách mình là kẻ phụ bạc, lo lắng cho người thương. Những gọi Kim Lang cất lên trong tha thiết càng tô đậm thêm trái tim nhân hậu, trọng nghĩa trọng tình của Thuý Kiều.

Đoạn trích “Trao duyên” tuy không quá dài là một đoạn tích vô cùng đặc sắc. Qua đó là thấy được vẻ đẹp của một tấm lòng thuỷ chung, son sắt, thấu hiểu nỗi đau đớn giằng xé tâm can của người con gái trong tình yêu và cảm nhận được tính nhân văn cao cả trong từng tứ thơ mà Nguyễn Du sáng tạo nên.

3. Bài vănCảm nhận về đoạn Trao duyên, mẫu số 3 (Chuẩn)

Trong văn học trung đại Việt Nam, các tác phẩm phản ánh hiện thực xã hội và bộc lộ các giá trị nhân đạo nhân văn còn chưa thực sự được chú ý, bởi đó là những vấn đề nhạy cảm và thường vướng phải sự chỉ trích, tranh cãi của nhiều người. Đặc biệt là các tác phẩm viết về người phụ nữ, viết về nỗi đau thân phận, về khao khát hạnh phúc lứa đôi vẫn được xem là tầm thường, tủn mủn, không đáng nhắc đến và Truyện Kiều chính là một trong số các tác phẩm vướng phải nhiều tranh cãi khi viết về Thúy Kiều – một cô gái tài sắc vẹn toàn nhưng mang thân phận kỹ nữ nhiều đớn đau. Chỉ đến vài trăm năm sau, những giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm này mới được công nhận và làm sáng rõ, trở thành một trong những kiệt tác của cả nền Văn học Việt Nam. Có thể nói, Truyện Kiều là một tác phẩm gói trọn tất cả những nỗi đau của người phụ nữ trong chế độ phong kiến, ấy là nỗi đau thân phận bọt bèo, những day dứt giữa chữ hiếu và chữ tình, nỗi xót xa cho tình yêu yểu mệnh, nỗi khổ sở cho kiếp chồng chung, nỗi đau sinh tử phân ly,… Trong trích đoạn Trao duyên, nỗi đau khi phải từ bỏ tình yêu, làm tròn hiếu đạo cùng với nỗi đau thân phận của Thúy Kiều được thể hiện vô cùng sâu sắc, qua đó cũng bộc lộ được những nét đẹp trong tính cách của người con gái tài hoa nhưng bạc mệnh này.

Thúy Kiều con gái lớn trong một gia đình giàu có, sống cuộc sống “êm đềm trướng rủ màn che”, nhưng chỉ một biến cố bất ngờ, gia đình bị vu oan mà Thúy Kiều lâm vào cảnh nhà tan cửa nát, cha và em bị bắt giam, gia sản bị tịch thu. Trong chốc lát, nàng dường như mất tất cả, kể cả Kim Trọng trong lúc nàng nguy khốn cũng vì về quê chịu tang mà chẳng thể đỡ đần, âu là cái kiếp nạn nó đã định Kiều phải một mình gánh lấy. Tài sản, tiền bạc đều mất hết, Kiều để cứu cha và em khỏi cảnh ngục tù chỉ đành phải tìm mối bán mình làm lẽ cho Mã Giám Sinh – vốn là một kẻ buôn người giả danh, để lấy một món tiền 400 lượng! Bao nhiêu tài sắc, bao nhiêu thông minh, khéo léo cuối cùng cũng chỉ đáng giá từng ấy tiền, đổi lại một kiếp làm lẽ đầy tủi nhục mà Kiều đâu hay rằng sau đó chính là 15 năm lưu lạc thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần, đầy đớn đau.

Sau khi giải quyết chuyện gia đình êm thấm, cứu được cha và em, làm tròn chữ hiếu, thế nhưng còn chữ tình của nàng thì biết phải làm sao. Nỗi đau bạc mệnh, cùng với nỗi đau khi buộc phải từ bỏ tình yêu đầu đời dày vò tâm can người con gái bất hạnh, đối với chàng Kim nàng đã đành phụ bạc, không biết lấy gì để đền đáp cho phần tình cảm chân thành ấy. Ngay lúc tâm trạng rối bời, day dứt ấy Kiều đã nghĩ ra một cách để trả nghĩa cho Kim Trọng, ấy là trao duyên cho Thúy Vân, em gái của mình, nhờ em chắp mối “duyên thừa” giúp mình chăm sóc, yêu thương Kim Trọng quãng đời về sau.

1 cam nhan ve doan trao duyen

Bài văn mẫuCảm nhận về đoạn Trao duyên, trích Truyện Kiều

Có thể trong quan niệm hiện đại, Thúy Kiều làm vậy là ích kỷ là bất công với Thúy Vân, thế nhưng trong chế độ phong kiến việc Thúy Vân thay chị trả nghĩa cho Kim Trọng là chuyện hết sức bình thường. Huống hồ Thúy Kiều đã phải hy sinh cả cuộc đời, hy sinh cả tình yêu để cứu gia đình thì việc Thúy Vân gánh vác cho chị gái mình phần ơn nghĩa với Kim Trọng cũng là hợp lý. Tuy nhiên, là người hiểu lý lẽ thế nên Thúy Kiều cũng hiểu rằng việc mở lời với Thúy Vân là vô cùng khó khăn mà nàng phải thật thận trọng để không làm tổn thương đến người em gái nàng yêu quý nhất.

“Cậy em, em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”

Thúy Kiều đã dùng những từ “cậy”, “chịu”, “lạy”, “thưa” để nói với Thúy Vân. Xét về vai vế của Kiều và Vân là không hợp lẽ thường, bởi dù cách biệt tuổi tác nhỏ, thế nhưng Kiều vẫn là chị, Vân là em tuân thủ phép tắc kính trên nhường dưới. Thế nhưng ở trong hoàn cảnh của Thúy Kiều, cách nói của nàng là một sự thông minh, tinh tế. Nàng muốn mở lời nhờ em gái chuyện trao duyên, thế nhưng lại sợ em gái không đồng ý, không thông cảm cho nàng, thế nên Kiều đành sử dụng cách nói “cậy em”, tức là lời nhờ vả khẩn thiết, sâu nặng, rồi “em có chịu lời” tức là lời báo trước về sự việc khó khăn mà nàng định nói. Sau đó Kiều hết sức cẩn thận nói với Vân “Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa” đó là một hành động bất thường, trang trọng, mang sắc thái nghiêm túc. Việc Kiều lạy tức xem Vân như ân nhân của mình, là người duy nhất để nàng tin tưởng gửi gắm, đồng thời hành động ấy cũng dồn Thúy Vân vào thế khó xử, khó mà từ chối được lời cậy nhờ của chị gái, dù nàng chưa hề biết đó là chuyện gì.

Sau khi làm lễ lạy với Thúy Vân, Kiều mới nhẹ nhàng “thưa” chuyện với em gái một cách thẳng thắn. Nàng và Kim Trọng đã hết duyên “Giữa đường đứt gánh tương tư”, không chỉ thế nàng lại đã phụ lòng Kim Trọng để gả cho người khác, dù là có nỗi khổ riêng, thế nhưng cũng không thể chối cãi được việc Kiều nợ tình chàng Kim. Để trả món nợ tình nghĩa, Kiều đành nhờ Vân thay mình “Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”, trở thành vợ Kim Trọng, giúp chàng nâng khăn sửa áo, như đã từng thề ước. Có thể nói rằng, dù đã chuẩn bị tâm lý thế nhưng chuyện này đối với Thúy Vân vẫn vô cùng bất ngờ và khó chấp nhận, hiểu được lẽ đó nên Kiều lần lượt kể lại câu chuyện biến cố gia đình, mối tình của mình với Kim Trọng, bộc bạch sự khó xử, day dứt của mình để Thúy Vân có thể thấu hiểu và dễ dàng chấp nhận chuyện trao duyên.

Kể từ khi gặp chàng Kim ,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”

Trong lời kể của Thúy Kiều, có thể nhận rõ tình cảm sâu sắc mà nàng dành cho Kim Trọng, nhớ về chuyện hai người từng thề ước mà lòng đau như cắt. Khi biến cố xảy đến Thúy Kiều không còn lựa chọn nào khác nên đành phải phụ lại mối tơ duyên với chàng Kim, tội lỗi ấy dù là tình thế ép buộc thế nhưng chắc chắn cũng khiến Kim Trọng khó à nguôi ngoai. Đặc biệt Thúy Kiều là người hiểu biết lễ nghĩa, chữ tín trong tình yêu đối với nàng lại càng thiêng liêng hơn cả, chính thế Thúy Vân người em gái ruột thịt của nàng là sự lựa chọn tốt nhất lúc này để giúp nàng san sẻ âu lo, trả lại phần ân tình với Kim Trọng.

Kiều nói ra những lời đau đớn, xót xa như thế ắt là để Vân được thấu hiểu những nỗi khổ tâm trong lòng mình, dẫu biết rằng “Ngày xuân em hãy còn dài”, cuộc đời đáng lý phải trải qua những chuyện tốt đẹp hơn, có được lang quân, được tình yêu như ý nguyện chứ chẳng phải là cảnh chắp mối duyên thừa này. Thế nhưng ngày xuân của Vân còn đó, ít nhất nàng vẫn được sống cảnh êm đềm, còn ngày xuân của Kiều có lẽ đến đây đã là chấm hết, ai xót xa cho? Thúy Kiều lấy thân phận chị, cũng là thân phận người chịu ơn cậy nhờ Vân, mong rằng Vân hiểu mà “Xót tình máu mủ thay lời nước non”, giúp nàng hoàn thành tâm nguyện trước khi phải đi xa. Mấy câu “Chị dù thịt nát xương mòn/Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”, gần như là lời dặn dò, tâm nguyện cuối cùng của một con người đang có những dự cảm không mấy tốt đẹp về cuộc đời mình. Hỏi rằng khi nghe những lời đau đớn, xót xa như thế Thúy Vân có đành lòng từ chối hay không?

“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên!
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.”

Đợi Thúy Vân nhận lời đồng ý xong xuôi, Kiều lại mang hết những vật kỷ niệm, đính ước của mình và Kim Trọng ra trao lại cho em gái, hành động ý có nghĩa vô cùng sâu sắc, thể hiện tấm lòng của Kiều đối với chuyện trao duyên cho em gái. Với nàng đó không phải là việc nhờ cậy cho xong món nợ ân tình, để dứt áo ra đi, mà nó thể hiện sự trân trọng của Kiều đối với mối tình này. Bản thân nàng lúc nào cũng để cho nó một vị trí thiêng liêng, luôn muốn nó được trọn vẹn, dù rằng giờ đây cũng thành chắp vá, thế nhưng đã trao tình, thì phải trao lại cả vật đính ước, thể hiện sự dứt khoát, mạnh mẽ của Thúy Kiều, dù rằng thâm tâm nàng chất chứa nhiều đau khổ. Nỗi đau khổ, day dứt, sự tiếc nuối thể hiện rõ rệt trong từng lời nàng dặn Thúy Vân, trao cho em “chiếc vành với bức tờ mây”, nhưng lại dặn em “Duyên này thì giữ vật này của chung” tức là chuyện duyên nợ từ nay là của riêng Thúy Vân với Kim Trọng thế nhưng những kỷ vật này thì lại là của chung ba người. Thúy Kiều dặn dò Thúy Vân rằng đừng bao giờ quên mình, nếu có thương xót chị mệnh bạc thì mang đàn ra gẩy và hương ra đốt để tưởng nhớ, như là lời dặn dò trăn trối đầy ảm đạm, thê lương. Sâu xa trong những lời nói của Thúy Kiều không chỉ là những dự cảm không lành về một cuộc đời nhiều sóng gió, sự chán chường tuyệt vọng trước số phận, mà đó còn là niềm mong mỏi hy vọng rằng dù bản thân ra đi thế nhưng Kim Trọng vẫn có thể vì những kỷ vật quý giá mà nhớ tới mình, bấy nhiêu thôi cũng đủ khiến lòng Kiều được xoa dịu.

“Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ gió cây,Ư
Thấy hiu hiu gió, thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt, khuất lời,
Rảy xin chén nước cho người thác oan.”

Ở những câu thơ tiếp, Thúy Kiều tiếp tục dặn dò em gái như lời dặn dò hậu sự mai sau của chính mình, Thúy Kiều bán mình làm lẽ cho người, không hẳn là đi vào con đường tuyệt lộ, thế nhưng đối với nàng cuộc đời, tuổi xuân dường như đã bị chôn vùi, lại nhớ đến Đạm Tiên cùng giấc mộng đoạn trường, Kiều càng có những dự cảm không lành về số phận của mình. Chính lẽ ấy càng làm cho Kiều đau đớn, xót xa, những lời dặn dò cũng trở nên buồn thảm, tăm tối, hướng về cái chết hơn sự sống, mà có lẽ cuộc đời Kiều đã bắt đầu chết từ lúc nàng chấp nhận bán mình. Thúy Kiều đau khổ, nhưng nàng vẫn ẩn nhẫn, nén nhịn những đau khổ ấy vào lòng, nhẹ nhàng dặn dò Thúy Vân, cũng mong cho Vân có được cuộc sống điền viên hạnh phúc, chỉ là những lúc rảnh rang, đốt hương, gảy đàn cũng với Kim Trọng, mong rằng vợ chồng em hãy còn nhớ đến một người con gái bạc mệnh “Rảy xin chén nước cho người thác oan”. Đủ để thấy rằng Thúy Kiều không chỉ là một hình mẫu lý tưởng, sống hiểu biết lý lẽ, chu toàn mọi việc, dứt khoát, mạnh mẽ, mà nàng còn là một con người có tình cảm, cũng biết đau buồn, khổ sở, tuyệt vọng cho số phận mình.

“Bây giờ trâm gãy bình tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phân sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

Sau khi đã giao phó ổn thỏa hết tất cả mọi chuyện, Thúy Vân rời đi, chỉ còn lại một mình Kiều, nàng nhìn lại tất thảy những biến cố mà mình vừa phải trải qua, cuối cùng đau đớn nhất, khiến nàng day dứt nhất vẫn là mối tình với Kim Trọng. Cặp trai tài gái sắc vốn đã tưởng sẽ có được cuộc hôn nhân mỹ mãn, người người ngưỡng mộ, thì chỉ một biến cố từ sự bất công của xã hội đã phá nát hết tất cả chỉ còn “trâm gãy bình tan”, không thể nào hàn gắn. Kiều nhớ lại những phút giây hạnh phúc bên Kim Trọng “Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân” mà lòng quặn thắt, tiếc nuối khôn nguôi, đặc biệt việc bội ước đã khiến nàng cảm thấy vô cùng hổ thẹn và có lỗi.

Trước tình cảnh trớ trêu của số phận, trước Kiều lạy để cậy nhờ Thúy Vân, thì sau nàng lại lạy Kim Trọng để xem như là lời tạ tội sâu sắc. Mấy câu “Trăm nghìn gửi lạy tình quân/Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi” càng bộc lộ tình yêu sâu sắc của Thúy Kiều dành cho Kim Trọng, khi nàng xem đó là điều thiêng liêng, tốt đẹp bậc nhất cuộc đời, đồng thời lời than trách tơ duyên ngắn ngủi là nỗi tiếc nuối, xót xa cho một mối tình dở dang, phải kết thúc trong đau đớn. Cùng với những tiếc nuối, hổ thẹn với Kim Trọng, Kiều còn tự ý thức sâu sắc về số phận của mình. Đó là lời than khóc, bất lực trước sự ngang trái của xã hội “Phận sao phận bạc như vôi/Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”, Thúy Kiều tự thấy xót xa cho cuộc đời mình, cuộc đời của một cô gái tài sắc vẹn toàn nhưng lại đầy bế tắc, bị dồn đến bước đường làm thiếp thất, tủi nhục, phải tự tay cắt đứt tình duyên mà mình hằng trân trọng. Bấy nhiêu nỗi đau như thế, đặc biệt là sự thống khổ, uất ức khi buộc phải chia cách với Kim Trọng đã khiến Kiều cất tiếng kêu khóc đầy tuyệt vọng, xót xa “Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang! Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”, mở ra một chuỗi 15 năm đầy sóng gió, bất hạnh, đoạn trường.

Trích đoạn Trao duyên là một trong những trích đoạn đặc sắc của Truyện Kiều khi thể hiện được những nỗi đớn đau của Thúy Kiều trước biến cố gia đình, biến cố tình yêu. Từ đó bộc lộ được những nét đặc sắc trong tính cách của nàng đó là sự thông minh, cẩn thận, hiểu biết lý lẽ, tình yêu sâu sắc của nàng với Kim Trọng, cũng như sự tự ý thức về số phận đớn đau của bản thân trước những ngã rẽ lớn trong cuộc đời. Thể hiện tấm lòng nhân đạo, thấu hiểu và cảm thông sâu sắc của Nguyễn Du đối với thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ, cũng như tấm lòng trân trọng của ông trước những con người có vẻ đẹp phẩm chất đáng quý mà đại diện là nàng Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn.

4.Cảm nhận về đoạn Trao duyên, mẫu số 4 (Chuẩn)

Nhắc đến văn học Việt Nam, ngay cả bạn bè quốc tế, không ai không biết đến “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du. 3245 câu thơ lục bát, mỗi câu đều thấm vào lòng người, rung động cả thời gian. “Trao duyên” là một trong những đoạn trích đặc sắc trong truyện Kiều. Đoạn trích đã tái hiện thành công diễn biến tâm lí phức tạp và sự giằng xé tâm trạng của Kiều trong đêm cậy nhờ Thúy Vân trả ân nghĩa cho chàng Kim.

Thúy Kiều và Kim Trọng gặp nhau, trai tài gái sắc đem lòng cảm mến. Một đêm trăng thanh đã định ra lời thề nguyền. Song Kim Trọng phải về quê chịu tang chú ruột. Biến cố cũng bất ngờ ập đến với gia đình Thúy Kiều. Để cứu cha và em trai, Kiều buộc phải bán mình cho Mã Giám Sinh. Vì làm tròn chữ hiếu, nàng đành phải từ bỏ mối tình tốt đẹp với Kim Trọng. Lời thề nguyền trước đó không bao lâu, Kiều không thể thực hiện được. Vào đêm trước ngày theo Mã Giám Sinh, Thúy Kiều quyết định nhờ cậy Thúy Vân thay mình trả nghĩa tình cho Kim Trọng.

“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”

Trong gia đình Vương ông, Thúy Kiều là chị, Thúy Vân là em. Kiều vốn có vai vế cao hơn so với Thúy Vân. Nhưng khi trao duyên, từ hành động đến cử chỉ, Thúy Kiều đều tự hạ mình để khẩn cầu em. Những từ ngữ “cậy”, “chịu” trong lời nói và hành động “lạy”, “thưa” khiến cho lời nhờ cậy trở nên vô cùng tha thiết. Không khí cuộc trò chuyện từ đó cũng trở nên nghiêm túc, thiêng liêng hơn. Không phải “nhờ” mà là “cậy”. “Cậy” vừa mang theo sự khẩn cầu thiết tha vừa vô hình tạo ra sức nặng. Dù muốn em thay mình nối tiếp mối duyên với Kim Trọng. Song Thúy Kiều vẫn hiểu rằng như thế là bất công với Thúy Vân. Những lời nói và hành động trái với vai vế lễ nghi, chứa đầy sự trang trọng do vậy mới xuất hiện.

Là chị, nhưng Kiều không đứng ở vị trí của người chị mà dùng tư thế của người chịu ơn để nói với Thúy Vân. Lời nhờ cậy ngỏ ra vẫn còn dè dặt, không bắt ép mà “mặc em” quyết định. Tình yêu với Kim Trọng không phải mờ nhạt thoáng qua mà là khắc cốt ghi tâm. Từ bỏ, Kiều phải chịu đựng nỗi đau tan nát cõi lòng. Nhưng ngay cả trong hoàn cảnh ấy, cách ứng xử của Kiều vẫn thể hiện sự sắc sảo, thông minh khôn khéo và tế nhị.

Để thuyết phục Thúy Vân, Kiều đã nói về cảnh ngộ bắt buộc của mình và mối tình dang dở với chàng Kim:

“Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”

“Quạt ước” và “chén thề” là những hình ảnh ước lệ tượng trưng gợi nhắc những kỉ niệm tình yêu đẹp đẽ với chàng Kim. Đồng thời cũng như một lưỡi dao sắc, gợi bao đau đớn, xót xa của hiện thực. Tình yêu đôi lứa bị chia cắt, dang dở.

“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối vẫn còn thơm lây”

Trong sâu thẳm tâm hồn người con gái tài sắc vẹn toàn là những tâm sự và nỗi đau khắc cốt ghi tâm. Từng câu từng chữ đều thăm thẳm đớn đau xé lòng. Kiều mong Thúy Vân thấu hiểu và đồng ý lời thỉnh cầu của mình. Thậm chí, Thúy Kiều nhắc đến cả tình thân ruột thịt và cái chết. Nguyện ước trao duyên quả thật tha thiết, xót xa khôn cùng. “Thịt nát xương mòn”, “ngậm cười chín suối” đều là những lí lẽ thuyết phục khiến Thúy Vân không thể chối từ. Ngoài ra cũng như mang theo mà dự cảm không lành của nàng về tương lai, số phận bi kịch nhiều sóng gió.

Sau khi thuyết phục em bằng lời lẽ khéo léo, thấu tình đạt lí, Thúy Kiều đã trao lại cho Thúy Vân những kỉ vật tình yêu của mình với Kim Trọng, hoàn tất nghi thức trao duyên:

“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người bạc mệnh ắt lòng chẳng quên
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”

Tất cả những kỉ vật như “chiếc vành”, “bức tờ mây”, “phím đàn”, “mảnh hương nguyền” đều là minh chứng cho một đoạn tình cảm sâu nặng, minh chứng cho một mối tình đẹp đẽ mang tên Kim – Kiều. Dù dang dở, dù thuộc về quá khứ, nó vẫn vô cùng thiêng liêng với Kiều, trao lại cho em, lòng nàng không thể nén được nỗi xót xa, không nỡ. Đây chính là thời điểm lí trí và tình cảm của nàng xảy ra mâu thuẫn.

Hai từ “của chung” thể hiện sự lúng túng, ngập ngừng, cho thấy tâm trạng của Kiều khi trao lại kỉ vật cho em. Lí trí thì mách bảo dứt khoát trao đi nhưng tình cảm thì lại không thể. Nếu như trước đó, Kiều tỏ ra đầy dứt khoát, khôn khéo trong lời nói. Thì đến đây, câu từ đều thấm đượm sự tiếc nuối, xót xa. Từng lời nói như nghẹn lại, trực trào nức nở, mang nặng nỗi đau xé ruột xé gan của người con gái lần đầu rung động trước những ngang trái cuộc đời.

“Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này,
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rưới xin chén nước cho người thác oan”

Kiều dường như có dự cảm về cuộc đời mình và cái chết. Nàng tự nhận mình bạc mệnh, nghĩ đến cả tình cảnh mình chết đi. Dù phải đến một thế giới khác, dù không thể trở lại cuộc sống bình thường và số phận mong manh. Kiều vẫn không hề thanh thản mà còn nặng lòng hơn với tình duyên, canh cánh vẫy vùng trong sự bất lực thác oan, đau đớn.

Chấp nhận trao duyên cũng là chấp nhận từ bỏ đoạn tình cảm tốt đẹp này, cắt đứt mối liên hệ với chàng Kim. Vậy nên, khi trao kỉ vật cho Thúy Vân, linh hồn của nàng dường như cũng đánh mất. Nỗi đau đớn bấy giờ không kìm nén nổi mà trào dâng trong tâm trí bế tắc, túng quẫn:

“Bây giờ trâm gãy gương tan
Kể sao cho xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng
Ôi Kim lang! Hỡi Kim Lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”

Dù do tình cảnh ép buộc, dù do sóng gió tai ương bất ngờ ập đến. Nàng vẫn cảm thấy mình là người có lỗi, mình là người đã cô phụ chàng Kim. Tiếng gọi Kim Trọng cất lên tha thiết và nghẹn ngào. Cả đoạn thơ như những tiếng than đứt ruột. Mọi bi kịch, mọi khổ đau và tình cảm sâu nặng của Thúy Kiều dường như đã lên đến đỉnh điểm. Song, chúng ta vẫn nghe thấy trong đó cả tiếng lòng cảm thông của tác giả và sự trân trọng cô gái trọng nghĩa tình.

“Trao duyên” là bức tranh tái hiện bi kịch tình yêu tan vỡ muôn vàn xót xa của Thúy Kiều. Qua đó tác giả đã làm bật lên được vẻ đẹp của Thúy Kiều: thủy chung da diết nhưng cũng sắc sảo mặn mà. Đồng thời, đại thi hào Nguyễn Du cũng thể hiện được tài năng miêu tả tâm lí nhân vật bậc thầy. Không chỉ là tấm lòng đồng cảm xót thương, Nguyễn Du còn dường như hóa thân thành nhân vật để tự trải lòng. Nội tâm Thúy Kiều nhờ đó được tái hiện vô cùng toàn diện. Đằng sau tất cả những điều đó là một tấm lòng nhân hậu, tinh thần nhân đạo và con mắt nhìn thấu sáu cõi của Nguyễn Du.

Có thể nói, đoạn trích là sự kết hợp hài hòa giữa thể thơ lục bát và các biện pháp tu từ. Đặc biệt qua các thành ngữ dân gian, ngôn ngữ bình dân và ngôn ngữ bác học, Nguyễn Du đã khắc họa thành công tâm trạng đau đớn dằn vặt của Kiều khi trao duyên. Từ đó làm nổi bật hình ảnh người con gái trọng tình trọng nghĩa. Đoạn trích không chỉ làm nổi bật tài năng miêu tả tâm lí nhân vật bậc thầy của đại thi hào Nguyễn Du. Mà còn thể hiện cả tấm lòng nhân đạo sâu sắc, tình yêu thương và sự cảm thông của Nguyễn Du dành cho nhân vật.

Đoạn trích “Trao duyên” với những giá trị về nội dung và nghệ thuật ấy thực sự đã mang đến cho chúng ta cái nhìn chân thực hơn về thời đại. Thời đại đồng tiền có thể chà đạp số phận con người, băng hoại đạo đức và đầy rẫy bất công. Để rồi rất nhiều năm qua đi, người ta vẫn nhớ mãi tác phẩm mang đầy giá trị nhân đạo “Truyện Kiều”.

5. Cảm nhận về đoạn trích Trao duyên, mẫu số 5 (Chuẩn):

Nguyễn Du là nhà thơ lỗi lạc của nền văn học Việt Nam. Thông qua kiệt tác “Truyện Kiều”, tác giả đã tái hiện đầy chân thực hình ảnh một xã hội phong kiến cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX mục nát, bất công đã chèn ép, dồn đẩy con người đến bước đường cùng. “Trao duyên” là một trong những đoạn trích đặc sắc trong truyện Kiều, tuy chỉ là một trích đoạn ngắn nhưng đã phần nào thể hiện được diễn biến tâm lí phức tạp, sự giằng xé trong tâm trạng của nàng Kiều trong đêm cậy nhờ Thúy Vân trả ân nghĩa cho chàng Kim.

Sau khi bị thằng bán tơ hãm hại, gia đình gặp biến cố, Thúy Kiều đã quyết định bán mình cho Mã Giám Sinh để cứu cha và em trai bị bắt giam. Đặt chữ hiếu lên trên cũng có nghĩa Thúy Kiều phải từ bỏ mối tình đẹp còn đang dang dở với Kim Trọng. Không thể thực hiện lời thề nguyền lứa đôi, Thúy Kiều nhờ Thúy Vân thay mình hoàn thành lời hứa với Kim Trọng dẫu trong lòng có bao đau đớn, xót xa:

“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”

Xét về địa vị trong gia đình, Thúy Kiều là chị, người có vai vế cao hơn so với Thúy Vân. Tuy nhiên, khi trao duyên, Thúy Kiều đã sử dụng những từ “cậy”, “chịu” và có những hành động “lạy”, “thưa” khiến cho lời nhờ cậy càng trở nên tha thiết; không khí của cuộc trò chuyện vì vậy cũng nghiêm túc, thiêng liêng hơn. Thúy Kiều sử dụng từ “cậy” mà không phải từ “nhờ” vừa tạo ra sự tha thiết trong lời nói vừa tạo ra sức nặng khiến Thúy Vân khó có thể từ chối. Thúy Kiều muốn Thúy Vân thay mình bù đắp cho chàng Kim nhưng cũng hiểu rằng như vậy sẽ bất công, thiệt thòi cho Vân nên đã có những hành động trang trọng, trái với lễ nghi: quỳ, lạy.

Quyết định trao duyên cho Thúy Vân không chỉ thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối của Thúy Kiều với em mà qua những hành động trang trọng còn cho thấy Thúy Kiều thực sự đã coi Thúy Vân như ân nhân, người đã giúp đỡ mình trong cơn nguy khốn. Những lời nói của Thúy Kiều với Thúy Vân khi trao duyên đều vô cùng dứt khoát, mạnh mẽ “Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”, tuy nhiên đằng sau sự vô tư, mạnh mẽ ấy lại là nỗi đau thấu tâm can bởi với Thúy Kiều, mối tình với Kim Trọng đâu phải mối tình trăng gió thoáng qua mà là mối tình khắc cốt ghi tâm.

Sau khi thuyết phục em bằng những lời lẽ và hành động sắc sảo, khiến em không thể từ chối, Thúy Kiều đã có những tâm sự đầy thiết tha về mối tình dang dở của mình với chàng Kim:

“Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”

Kiều đã kể cho em về cuộc gặp gỡ và đính ước cùng chàng Kim. Những hình ảnh ước lệ “quạt ước”, “chén thề” một lần nữa làm sống dậy những kỉ niệm tình yêu đẹp đẽ, sâu đậm với chàng Kim nhưng cũng gợi ra bao đau đớn, xót xa của thực tại khi hiện thực trái ngang đã chia rẽ tình yêu đôi lứa. Kim Trọng về quê chịu tang chú, Thúy Kiều chấp nhận bán mình cứu cha, đặt chữ hiếu lên trên chữ tình khiến cho tình duyên không thể vẹn tròn “Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”.

“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối vẫn còn thơm lây”

Thúy Kiều mang những tâm sự, nỗi đau từ tận đáy lòng để giãi bày cùng Thúy Vân chỉ hi vọng Vân có thể thấu hiểu và đồng ý với yêu cầu của mình. Để lời yêu cầu có thêm sức nặng, Thúy Kiều đã nhắc đến tình máu mủ và cả cái chết, thế mới thấy nguyện ước trao duyên của Thúy Kiều tha thiết, đau đớn đến nhường nào. “Thịt nát xương mòn”, “ngậm cười chín suối” không chỉ là những lí lẽ thuyết phục khiến Thúy Vân không thể từ chối mà còn là những dự cảm không lành của Thúy Kiều về tương lai, số phận của mình.

cam nhan ve doan trao duyen 2

Cảm nhận về đoạn Trao duyên- văn mẫu lớp 10 tuyển chọn

Qua lời trao duyên của Thúy Kiều, ta có thể thấy được sự sắc sảo, thông minh, khôn khéo mà thấu tình trong lời thuyết phục của nàng. Để hoàn tất nghi thức của việc trao duyên, Thúy Kiều đã trao lại cho Thúy Vân những kỉ vật tình yêu của mình với Kim Trọng:

“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người bạc mệnh ắt lòng chẳng quên
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”

Những kỉ vật tình yêu “chiếc vành”, “bức tờ mây”, “phím đàn”, “mảnh hương nguyền” gợi ra đoạn tình cảm sâu nặng, thiêng liêng của mối tình Kim – Kiều. Vì nó gắn với tình yêu, những nguyện thề thiêng liêng nên khi trao lại cho Thúy Vân, Kiều lại có chút xót xa, không lỡ. Đến đây, ta có thể thấy được sự mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm của nàng Kiều. Nếu như những câu thơ trên, Kiều thể hiện sự dứt khoát, mạnh mẽ đầy khôn khéo khi trao lời thì đến lúc trao kỉ vật lại thể hiện rõ sự tiếc nuối, xót xa. Lời nói như uất nghẹn, như chực trào nức nở đã thể hiện nỗi đau đứt ruột của người con gái trước những ngang trái của cuộc đời.

Chấp nhận trao duyên cũng là chấp nhận chặt đứt mối quan hệ với chàng Kim. Sau khi trao lại những kỉ vật cho Thúy Vân, trong nỗi đau đớn cùng cực, Thúy Kiều thẫn thờ như người vừa đánh mất linh hồn, chỉ còn lại những độc thoại đau đớn cùng một tâm trí bế tắc, túng quẫn:

“Ôi Kim lang! Hỡi Kim Lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”

Đoạn trích “Trao duyên” đã giúp ta hiểu rõ hơn về tài năng miêu tả tâm lí nhân vật bậc thầy của đại thi hào Nguyễn Du, đặc biệt trong việc khắc họa tâm trạng đau đớn, xót xa của nàng Kiều khi quyết định trao duyên, đoạn tuyệt mối tình đẹp đẽ, thiêng liêng với chàng Kim. Cũng qua đây, tác giả lên án xã hội phong kiến bất công, đồng thời bày tỏ sự đồng cảm của mình với số phận đau khổ, ngang trái của con người, nhất là người phụ nữ trong xã hội xưa.

6. Cảm nhận đoạn trích Trao duyên, mẫu số 6:

Nguyễn Du là đại thi hào của dân tộc Việt Nam. Ông sống trong giai đoạn lịch sử đày bão táp , cái xã hội bị đồng tiền chi phối. Trong cái xã hội ấy Nguyễn Du đã chứng kiến rất nhiều cảnh bất công cũng như cái xã hội thối nát bấy giờ. Ông có cảm thông sâu sắc với nỗi bất hạnh của người phụ nữ lúc bấy giờ. Ông viết ra rất nhiều tác phẩm nổi tiếng để nói thay cho tấm lòng đầy ai oán, đáng thương với người phụ nữi bất hạnh. Trong đó có kiệt tác “Truyện Kiều” trong truyện có đoạn trích “Trao duyên” mang âm hưởng bi kịch của sự đứt đoạn một tình yêu đẹp. Đoạn trích miêu tả tình cảnh trớ trêu của Kiều khi phải trao duyên cho em. Đồng thời làm rõ diễn biến tâm trạng đau khổ tuyệt vọng của nàng khi tình yêu tan vỡ, mình phải buộc phụ lòng Kim Trọng

Sau đem thề nguyền giữa Kim Trọng và Thúy Kiều, Kim Trọng phải về hộ tang chú ở Liễu Dương. Tai nạn ập đến với gia đình Thúy Kiều, Kiều phải buộc bán thân để chuộc cha và em. Đêm trước ngày theo Mã Giám Sinh, Kiều đã nhờ cậy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng.

Đem tình yêu của mình cho người khác là một bất đắc dĩ, vì Kiều không thể làm khác hơn vì đã lỡ hứa hẹn với chàng Kim. Chuyện vợ chồng là chuyện trăm năm, trao duyên trong hoàn cảnh Thúy Kiều là một truyện khó nói và tế nhị vì Vân chưa biết gì về mối tình của Kiều và chàng Kim. Bốn câu thơ thể hiện tư thế, hình ảnh Kiều khi nhờ Vân nối duyên với người yêu mình:

“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.”

Những điều Kiều sắp nói với vân thực sự quan trong và thiêng liêng. Đó là “cậy, lạy, thưa” thể hiện niềm tin chỉ có Vân là người mà Kiều tin cậy nhất. “Cậy” có sức nặng của niềm tin. Ở đây tác giả dùng “chịu lời” chứ không phải nhận lời là bắt người mình tin phải nghe theo và khó lòng từ chối. “Ngồi lên, lạy, thưa” là những thái độ của bề trên, những người có ơn với mình.

Từ những câu thơ trên ta nhận ra dù trog hoàn cảnh tan nát thì Kiều vẫn dùng những lỡi lẽ đoan trang tế nhị thể hiện sự nhờ vả khẩn khoản của Kiều.

Kiều đau đớn khi tâm sự với em về mối tình của mình. Hình ảnh “quạt ước, chén thề” điệp từ “khi” diễn tả tình cảm gắn bó thân thiết, sâu sắc. “Đứt gánh tương tư” là sự mong manh, tan vỡ đột ngột, bất ngờ. Kiều xin em chắp nối tơ thừa của mình trả nghĩa cho Kim Trọng. “Mặc em” là phó mặc, ủy thác vừa có ý mong muốn vừa có ý ép buộc Vân phải nhận lời với mình:

“Kể từ khi gặp chàng Kim ,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sòng gió bất kỳ,
Hiều tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”

Trong cái xã hội phong kiến đày rẫy sự bất công khiến cho nàng phải chịu khổ. Cha nàng bị kẻ gian hãm hại phận làm con nàng phải bán mình chuộc cha. Chữ hiếu làm tròn thì đồng nghĩa với chữ tình kia không vẹn

Nàng tự thấy Thúy Vân vẫn đang còn trẻ và là người duy nhất nàng tin cậy được nên yên tâm gửi lại mối tình này cho em:

“Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”

Kiều mong Vân xốt tình chị em máu mủ ruột già mà đồng ý chuyện mình bén duyên với Kim Trọng. Mai kia Kiều không còn trên đời nữa thì cũng vui lòng khi Vân chấp nhận mối tơ duyên này.

Đến đây Kiều lại đưa ra những kỉ vật tình yêu giữa nàng với Kim Trọng để trao cho Vân. Trao đi tì sẽ không còn là của mình nữa nhưng Kiều vẫn mong em coi đó là kỉ vật của ba người:

“Chiếc thoa với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên!
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ gió cây,
Thấy hiu hiu gió, thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.”

Chiếc vành, bức tờ mây gợi tình cảm sâu nặng, lời thề ước thiêng liêng của Kim-Kiều. Phím đàn, mảnh hương nguyền trở thành ngày xưa, quá khứ. Những kỷ vật quý giá thiêng liêng chứng minh cho tình yêu đẹp. Trao kỷ vật đó là mâu thuẫn giữa hoàn cảnh bắt buộc và nội tâm của Kiều khẳng định giữa tình cảm và lý trí , nhân cách và thân phận của Kiều. Tâm trạng của Kiều chứa đầy mâu thuẫn giữa hành động và lời nói, lý trí và tình cảm

“Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phân sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

Kiều hình dung ra viễn cảnh đối lập nhau. Một bên là Thúy Vân và kim Trọng sum họp và một bên là oan hồn bạc mệnh của nàng. Dù nàng có chết thì mối tình của nàng với chàng Kim vẫn còn nặng. Trong lúc này thì sự bối rối, sự oan của mình làm cho Kiều không còn nghĩ tới mình đang nói chuyện cho mình nghe. Kiều tiên đoán trước cảnh tượng oan nghiệt, xót xa đang đợi mình phía trước.

Tình yêu mất xem như kiều đã chết, cái chết trống trải khi không có tình yêu, đó là cái chết tâm hồn. Tiếng nói thương xót cho thân phận của con người thiết tha với tình yêu. Chuyển từ đối thoại với em sang độc thoại nội tâm. Trao kỷ vật mà lòng thổn thức, đau lòng

Nàng lạy trăm nghìn cái gửi cho tình quân của mình như thể hiện lời xin lỗi chân thành cũng như cái cúi chào tạm biệt trước khi chia ly. Tơ duyên tưởng chừng sẽ cùng nhau đi tới cùng trời cuối đất nhưng mà ngắn ngủi có ngần ấy thôi

Đoạn trích trao duyên quả là một đoạn trích hay và giàu ý nghĩa. nó không chỉ nói lên được tâm trạng của Thúy Kiều mà còn thể hiện được bộ mặt xã hội phong kiến đầy những bất công. Tình duyên của người con gái vì thế mà lỡ làng. Dù nàng có đi đâu thì nàng cũng vẫn nhớ về mối tình cùng chàng Kim Trọng.

——————–HẾT——————–

Để hiểu được tình cảnh trớ trêu cùng tâm trạng đau khổ, day dứt của nàng Kiều khi quyết định hi sinh tình riêng để làm tròn chữ hiếu trong Trao duyên, các em có thể tìm đọc thêm:Phân tích tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn thơ Trao duyên, Vẻ đẹp nhân cách của Thúy Kiều qua đoạn trích Trao duyên,Phân tích đoạn trao kỷ vật trong trích đoạn Trao Duyên, Vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật qua đoạn Trao duyên.

Trích nguồn: TH Văn Thủy
Danh mục: Lớp 10

Lê Thị Thanh Loan

Cô giáo Lê Thị Thanh Loan tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Hiện nay, Cô đang giảng dạy tại trường Trường tiểu học Văn Thủy
Back to top button