Tổng hợp

Một số điểm mới của Nghị quyết số 12-NQ/TW về “Tiếp tục đổi mới, cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”

1 số điểm mới của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành TW Đảng khóa XII

Vik News VN trân trọng giới thiệu 1 số điểm mới của Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 (khóa XII) về “Tiếp tục đổi mới, cơ cấu lại và tăng lên hiệu quả công ty nhà nước”.

Nghị quyết 12-NQ/TW 5 2017 về tiếp diễn cơ cấu lại, đổi mới và tăng lên hiệu quả công ty nhà nước

Ngày 03/6/2017, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XII) đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW về “Tiếp tục đổi mới, cơ cấu lại và tăng lên hiệu quả công ty nhà nước”. Cấu trúc của Nghị quyết gồm 4 phần: Tình hình và nguyên do; ý kiến lãnh đạo và chỉ tiêu; nhiệm vụ và biện pháp chủ quản; tổ chức tiến hành.

Để chuyên dụng cho công việc nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền đưa Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XII) vào cuộc sống, Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương biên soạn, phát hành tài liệu: 1 số điểm mới của Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 3/6/2017, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về “Tiếp tục đổi mới, cơ cấu lại và tăng lên hiệu quả công ty nhà nước”.

Chi tiết, 1 số điểm mới như sau:

1. Về định nghĩa công ty Nhà nước

Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII) đã xác định nội hàm rõ công ty nhà nước để hợp nhất cách hiểu “Doanh nghiệp nhà nước là công ty do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc giữ cổ phần, vốn góp chi phối, tổ chức và hoạt động dưới bề ngoài doanh nghiệp cổ phần hoặc doanh nghiệp bổn phận hữu hạn”. Vậy khuôn khổ bao quát ko chỉ ở 1 số ít công ty do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ nhưng mà còn bao gồm 1 số lượng rất bự công ty do nhà nước nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối, thích hợp với thực tế trong nước và thông lệ quốc tế. Khái niệm này kế thừa Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX), mà có bổ sung hơn so với Luật Doanh nghiệp 2014 (Doanh nghiệp nhà nước là công ty do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ). Hiện nay, vốn và của cải nhà nước tại các công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước rất bự và Nhà nước có vai trò quan trọng trong định hướng tăng trưởng các công ty này, vì thế rất cần sự chỉ huy của Đảng và Nhà nước đối với các công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước.

2. Về địa điểm và vai trò của doanh nghiệp nhà nước

– Trong Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) xác định: “công ty nhà nước là lực lượng cốt cán đẩy nhanh phát triển kinh tế và tạo nền móng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, tiên tiến hóa tổ quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa”; “công ty nhà nước giữ địa điểm mấu chốt trong nền kinh tế, làm dụng cụ vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng cốt cán, góp phần chủ quản để kinh tế nhà nước tiến hành vai trò chủ chốt trong nền kinh tế thị phần định hướng xã hội chủ nghĩa, là chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế”.

– Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII) nêu bật hơn vai trò của Doanh nghiệp Nhà nước theo ý thức chi tiết hóa ý kiến của Đại hội XII: Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt và là 1 lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần xúc tiến tăng trưởng kinh tế và tiến hành văn minh, công bình xã hội; công ty nhà nước thực hiện vai trò dẫn dắt tăng trưởng các công ty thuộc thành phần kinh tế khác, đảm bảo công ty Việt Nam thật sự biến thành lực lượng cốt cán trong tăng trưởng kinh tế – xã hội, tiến hành công nghiệp hoá, tiên tiến hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh thế giới hóa và hội nhập quốc tế.

3. Về phạm vi ngành, lĩnh vực hoạt động

Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII) đề ra chủ trương tiếp tục thu hẹp khuôn khổ ngành, lĩnh vực hoạt động của công ty nhà nước, chi tiết là: Doanh nghiệp nhà nước tập hợp vào những lĩnh vực mấu chốt, cần thiết; những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh; những lĩnh vực nhưng mà công ty thuộc các thành phần kinh tế khác ko đầu cơ.

Trong lúc đấy, Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) xác định: “Kiên quyết điều chỉnh cơ cấu để công ty nhà nước có cơ cấu cân đối, tập hợp vào những ngành, lĩnh vực mấu chốt và địa bàn quan trọng, chiếm thị trường đủ bự đối với các thành phầm và dịch vụ chủ quản; ko nhất quyết phải giữ tỉ trọng bự trong tất cả các cấp, lĩnh vực, thành phầm của nền kinh tế”.

Như vậy, khuôn khổ ngành, lĩnh vực hoạt động của công ty nhà nước đã được xác định rõ hơn so với Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) và thích hợp hơn với vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị phần định hướng xã hội chủ nghĩa.

4. Về chế độ hoạt động, mục tiêu bình chọn hiệu quả công ty nhà nước

– Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII) xác định ý kiến: Doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo chế độ thị phần, lấy hiệu quả kinh tế làm mục tiêu bình chọn chủ quản, tự chủ, tự chịu bổn phận, cạnh tranh đồng đẳng với công ty thuộc các thành phần kinh tế khác theo quy định của luật pháp. Đảm bảo công khai, sáng tỏ và bổn phận giải trình của công ty nhà nước. Tách bạch nhiệm vụ của công ty nhà nước sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thông thường và nhiệm vụ của công ty nhà nước sản xuất, hỗ trợ hàng hoá, dịch vụ công ích.

Quan điểm này chi tiết hóa chủ trương của Đảng trong Đại hội XII “Mọi công ty thuộc các thành phần kinh tế đều phải hoạt động theo chế độ thị phần, đồng đẳng cạnh tranh theo luật pháp”; Tách bạch nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và nhiệm vụ chính trị, công ích”.

– Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII) đề nghị biện pháp đổi mới chế độ, chế độ để công ty nhà nước thật sự vận hành theo chế độ thị phần:

+ Doanh nghiệp nhà nước tham dự thực hiện nhiệm vụ chính trị, xã hội do Nhà nước giao thực hiện theo cơ chế Nhà nước đặt hàng, lựa chọn cạnh tranh, công khai và xác định rõ mức giá, chi phí thực hiện, trách nhiệm và quyền lợi của Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước để 3̉o đảm ko làm giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước.

+ Quan hệ kinh tế, tài chính giữa Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước, nhất là các quyền và nghĩa vụ phải được thực hiện đầy đủ, minh 3̣ch theo quy định của pháp luật, thích hợp với chế độ thị phần.

+ Xoá bỏ các chế độ can thiệp hành cương trực tiếp, bao cấp dành cho công ty nhà nước, đối xử bất đồng đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, nhất là trong tiếp cận các nguồn lực nhà nước, tín dụng, đất đai, khoáng sản, thời cơ đầu cơ, kinh doanh, nguồn vốn, thuế,…

+ Phát huy vai trò mở đường, dẫn dắt của công ty nhà nước trong việc tạo nên và mở mang các chuỗi sản xuất, hỗ trợ và chuỗi trị giá trong nước, khu vực và toàn cầu. Giảm thiểu trạng thái sản xuất kinh doanh khép kín, cục bộ, ko sáng tỏ trong công ty nhà nước, đặc thù là trong các tập đoàn kinh tế, tổng doanh nghiệp nhà nước.

Nhìn chung, đổi mới chế độ, chế độ hoạt động của công ty nhà nước theo Nghị quyết này là hướng đến đảm bảo đối xử đồng đẳng giữa công ty nhà nước và công ty thuộc các thành phần kinh tế khác, đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu bổn phận của công ty nhà nước, quan hệ giữa nhà nước và công ty nhà nước “sòng phẳng” và rõ ràng hơn theo chế độ thị phần nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động của công ty nhà nước.

Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) xác định: Doanh nghiệp tự chủ quyết định kinh doanh theo quan hệ cung cầu trên thị phần thích hợp với chỉ tiêu thành lập và điều lệ hoạt động. Xóa bỏ bao cấp đối với công ty. Thực hiện chế độ khuyến mãi đối với các cấp, vùng, các thành phầm và dịch vụ cần dành đầu tiên hoặc khuyến khích tăng trưởng, ko phân biệt thành phần kinh tế. Việc coi xét, bình chọn hiệu quả của công ty nhà nước phải có ý kiến toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội; trong đấy, lấy suất sinh lời trên vốn làm 1 trong những tiêu chuẩn chủ quản để bình chọn hiệu quả của công ty kinh doanh, lấy kết quả thật hiện các chế độ xã hội làm tiêu chuẩn chủ quản để bình chọn hiệu quả của công ty công ích. Tiếp tục đổi mới chế độ điều hành để công ty nhà nước kinh doanh tự chủ, tự chịu bổn phận, cộng tác và cạnh tranh đồng đẳng với công ty thuộc các thành phần kinh tế khác theo luật pháp. Bảo hộ cấp thiết, có điều kiện đối với những ngành, lĩnh vực, thành phầm quan trọng. Thực hiện độc quyền nhà nước trong lĩnh vực cấp thiết, mà ko biến độc quyền nhà nước thành độc quyền công ty. Xóa bao cấp, cùng lúc có chế độ đầu cơ đúng mực và cung ứng thích hợp đối với những ngành, lĩnh vực, thành phầm cần dành đầu tiên tăng trưởng.

5. Về định hướng cơ cấu lại

– Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII) xác định ý kiến: Cơ cấu lại, đổi mới công ty nhà nước theo chế độ thị phần là công đoạn thường xuyên, liên tiếp với phương thức tiến hành và lịch trình cân đối. Tiếp tục tăng cường cơ cấu lại công ty nhà nước theo hướng cương quyết cổ phần hoá, bán vốn tại những công ty nhưng mà Nhà nước ko cần nắm hoặc ko cần giữ cổ phần, vốn góp chi phối, kể cả những công ty đang kinh doanh có hiệu quả; cùng lúc xử lý triệt để, bao gồm cả việc cho vỡ nợ các công ty nhà nước yếu kém.

Quan điểm này trình bày việc cơ cấu lại, đổi mới công ty nhà nước là 1 công đoạn thường xuyên, liên tiếp ko chỉ nhằm xử lý những giảm thiểu, yếu kém ngày nay nhưng mà còn để công ty nhà nước phục vụ đề nghị tăng trưởng kinh tế – xã hội, tiến hành được địa điểm, vai trò của công ty nhà nước đã nêu và tiếp diễn thu hẹp số lượng công ty nhà nước để tập hợp vào 3 ngành, lĩnh vực đã được Đại hội XII của Đảng xác định. Quan điểm này cho thấy sự nỗ lực cao của Đảng trong việc đổi mới, cơ cấu lại công ty nhà nước, nhất là cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước.

Trong lúc đấy, Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) xác định: “Chuyển công ty nhà nước sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp; tăng cường cổ phần hóa những công ty nhà nước nhưng mà Nhà nước ko cần giữ 100% vốn, xem đấy là khâu quan trọng để tạo chuyển biến căn bản trong việc tăng lên hiệu quả công ty nhà nước”.

– Về cổ phần hóa công ty, thoái vốn nhà nước tại công ty, Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII) có 1 số điểm mới để khắc phục những vấn đề nảy sinh trong thực tế nhưng mà Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) chưa nhắc đến đến:

+ Giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước xuống mức đủ để chỉnh sửa quản trị 1 cách bản chất và hấp dẫn nhà đầu cơ có năng lực thực thụ; tối đa hoá trị giá bán vốn nhà nước theo chế độ thị phần.

+ Rà soát, đánh giá toàn diện thực trạng và phân loại các doanh nghiệp nhà nước, dự án, công trình đầu tư và vốn, của cải nhà nước tại công ty để có giải pháp cơ cấu lại, xử lý phù hợp. Kiên quyết xử lý dứt điểm các công ty nhà nước, các dự án đầu cơ thua lỗ, kém hiệu quả. Đối với công ty nhưng mà Nhà nước ko cần nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối hoặc ko cần nắm giữ cổ phần, vốn góp thì tiến hành cổ phần hoá, bán, khoán, cho thuê, giải thể, vỡ nợ. Đối với những công ty nhưng mà Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn hoặc cần nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối thì cơ cấu lại bằng chế độ, chế độ thích hợp. Đối với những dự án đầu tư thua lỗ, tiến hành cơ cấu lại và chuyển nhượng dự án cho nhà đầu cơ thuộc thành phần kinh tế khác. Làm rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm theo quy định của luật pháp những vi phạm của các tổ chức, cá nhân liên can để xảy ra trạng thái doanh nghiệp nhà nước, dự án đầu tư thua lỗ, thất thoát, phung phí bự.

+ Khuyến khích, hấp dẫn các nhà đầu cơ chiến lược tham dự sắm cổ phần, góp vốn vào công ty lúc cổ phần hoá, thoái vốn nhà nước. Hoàn thiện mục tiêu cổ đông bự, cổ đông chiến lược có đủ khả năng tài chính, công nghệ và quản trị để cơ cấu lại và tăng trưởng công ty.

+ Tăng mạnh thoái vốn đầu cơ ngoài ngành, lĩnh vực kinh doanh chính, kiên quyết giải quyết trạng thái đầu cơ phân tán, dàn trải. Cơ cấu lại công ty nhà nước trên cơ sở nhiệm vụ được giao, ngành, nghề kinh doanh chính, khai thác tối đa tiềm năng, điểm tốt; triệt để tiết kiệm chi tiêu; tăng lên chất lượng hàng hoá, dịch vụ, uy tín và nhãn hiệu trên thị phần.

+ Sử dụng có hiệu quả chế độ thuế, phí gắn với tăng lên hiệu quả công việc quy hoạch đất đai 1 cách bất biến. Đẩy mạnh điều hành, kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo nhà đầu cơ tiến hành đầy đủ trách nhiệm nguồn vốn với Nhà nước trong việc biến đổi mục tiêu sử dụng đất sau cổ phần hoá.

+ Tiền thu từ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước được điều hành tập hợp và chỉ sử dụng cho các mục tiêu chi đầu cơ tăng trưởng; ko sử dụng cho chi thường xuyên của ngân sách nhà nước.

+ Đối với các công ty nhà nước đang được giao điều hành, khai thác các công trình, dự án kết cấu cơ sở vật chất do Nhà nước đầu cơ có ý nghĩa quan trọng về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, lúc cổ phần hoá, Nhà nước thực hiện kiểm soát theo nguyên lý: Nhà nước hợp nhất sở hữu các công trình cơ sở vật chất quan trọng; công ty cổ phần hoá, nhà đầu cơ nhận quyền khai thác chỉ được quyền điều hành, vận hành, khai thác các công trình, dự án kết cấu cơ sở vật chất; việc chọn lọc nhà đầu cơ, công ty phải tiến hành theo Luật Đấu thầu, công khai, sáng tỏ; đảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền tổ quốc, toàn vẹn lãnh thổ.

+ Tăng cường đầu tư, tăng lên năng lực của công ty nhà nước về đổi mới thông minh, nghiên cứu, phần mềm, chuyển giao khoa học, công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến, sử dụng tiết kiệm năng lượng, gần gũi với môi trường, coi đây là nhân tố quyết định tăng lên năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của công ty nhà nước.

6. Về bí quyết xác định trị giá công ty và bán cổ phần

Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII) đề ra một số giải pháp nhằm xác định giá trị hợp lý giá trị doanh nghiệp, vốn và tài sản nhà nước, đồng thời hạn chế tình trạng thất thoát trong cổ phần hoá, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp:

– Đảm bảo công khai, sáng tỏ trong cơ cấu lại công ty nhà nước, nhất là trong cổ phần hoá và thoái vốn nhà nước tại công ty. Áp dụng các bí quyết định giá của cải hiện đại thích hợp với chế độ thị phần; đảm bảo vốn, của cải của Nhà nước và trị giá công ty được định giá đầy đủ, cân đối, công khai, sáng tỏ. Hoàn thiện thiết chế về định giá đất đai, của cải hữu hình và của cải vô hình (của cải trí não, nhãn hiệu,…) trong cổ phần hoá theo chế độ thị phần. Quy định rõ trách nhiệm của tổ chức tư vấn định giá độc lập trong định giá của cải, vốn và xác định trị giá công ty. Xác định rõ bổn phận của Kiểm toán Nhà nước trong việc kiểm toán xác định trị giá công ty, định giá của cải, vốn nhà nước.

Đây là điểm mới so với Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) đã nêu “Sửa đổi bí quyết xác định trị giá công ty theo hướng gắn với thị phần; nghiên cứu đưa trị giá quyền sử dụng đất vào trị giá công ty, thử nghiệm đấu thầu bán cổ phiếu và bán cổ phiếu qua các định chế nguồn vốn trung gian”.

– Trên cơ sở trị giá vốn, của cải của Nhà nước và trị giá công ty đã được xác định đầy đủ, cân đối và theo quy định của pháp luật, khẩn trương 3́n cổ phần, thoái vốn 1 cách công khai, sáng tỏ, chủ quản phê duyệt bán đấu giá cạnh tranh trên thị phần. Cổ phần hoá phải gắn với niêm yết cổ phiếu trên thị phần chứng khoán. Các công ty cổ phần hoá phải niêm yết trong thời hạn 1 5 tính từ lúc ngày phát hành cổ phiếu lần đầu. Các công ty cổ phần hoá chưa phục vụ đầy đủ các điều kiện niêm yết cổ phiếu theo quy định của luật pháp thì phải lập và khai triển kế hoạch niêm yết cổ phiếu trên thị phần chứng khoán trong thời hạn xác định theo quy định.

– Nghiêm cấm và xử lý nghiêm minh các trường hợp định giá thấp của cải, vốn của Nhà nước và trị giá công ty ko đúng quy định của luật pháp để trục lợi, gây thất thoát của cải, vốn nhà nước.

7. Về đổi mới, tăng lên hiệu quả hoạt động của hệ thống quản trị và tăng lên năng lực, nhân phẩm của hàng ngũ cán bộ điều hành công ty nhà nước

Quản trị và công tác cán bộ là một trong những khâu yếu nhất của doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, trong Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) cũng ko nêu định hướng chi tiết về đổi mới quản trị doanh nghiệp nhà nước. Thành ra, để khắc phục những hạn chế, yếu kém về quản trị và cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước, đồng thời cụ thể hoá chủ trương tại Đại hội XII của Đảng “Kiện toàn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và tăng lên năng lực quản trị doanh nghiệp nhà nước phù hợp với chuẩn mực quốc tế“, Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII) lần này, đã xác định mục tiêu đến 5 2030 doanh nghiệp nhà nước đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về quản trị công ty và đưa ra một số giải pháp cụ thể như sau:

– Xây dựng và vận dụng khung quản trị công ty thích hợp với chuẩn mực quốc tế tại các công ty nhà nước, nhất là đối với các tập đoàn, tổng doanh nghiệp nhà nước; đi đôi với huấn luyện, bồi dưỡng, tăng lên năng lực quản trị, quản lý và nhân phẩm đạo đức của cán bộ, kiến lập môi trường quản trị công ty lành mạnh, hiệu quả.

– Kiên quyết tranh đấu và thiết lập các hệ thống quản trị, kiểm soát nội bộ có hiệu quả trong việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, xung đột lợi ích; trạng thái cán bộ chỉ huy, điều hành của công ty nhà nước móc ngoắc với cán bộ, công chức nhà nước và khu vực kinh tế cá nhân để tạo nên “nhóm lợi ích”, “sân sau”, lạm dụng chức vụ, quyền hạn thao túng hoạt động của công ty nhà nước, trục lợi tư nhân, tham nhũng, phung phí, gây tổn hại cho Nhà nước và công ty.

– Xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và bổn phận của các chức danh quản lý trong hệ thống quản trị của công ty nhà nước; đảm bảo bổn phận đi đôi với quyền hạn.

Ban kiểm soát, kiểm soát viên phải thực thụ là dụng cụ giám sát hữu hiệu của chủ nhân, hoạt động độc lập và ko chịu sự chỉ huy, chỉ đạo hoặc chi phối về ích lợi của hội đồng thành viên, hội đồng quản trị và ban quản lý công ty. Giám đốc điều hành và các thành viên ban quản lý công ty nhà nước do hội đồng thành viên, hội đồng quản trị bổ dụng, thuê và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của luật pháp và hợp đồng lao động.

– Hoàn thiện các hệ thống khuyến khích, đòn bẩy kinh tế đi đôi với tăng lên bổn phận, kỷ luật, kỷ cương trong công ty nhà nước. Thực hiện cơ chế tiền công, tiền thưởng, thù lao của công nhân và người điều hành công ty nhà nước thích hợp với chế độ thị phần, có tính cạnh tranh cao trên cơ sở kết quả sản xuất, kinh doanh. Áp dụng hệ thống đánh giá hiệu quả lao động đối với từng vị trí việc làm để xác định mức độ hoàn thành, năng suất, chất lượng và hiệu quả công tác, làm cơ sở trả lương, đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí và đề 3̣t cán bộ.

– Thực hiện việc tách người quản lý công ty nhà nước khỏi cơ chế nhân viên, công chức. Triển khai rộng rãi cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm qua thi tuyển cạnh tranh, công khai, minh 3̣ch đối với tất cả các chức danh điều hành, quản lý và các vị trí công việc khác trong công ty.

– Bố trí, tinh gọn và tăng lên hiệu quả tổ chức bộ máy, biên chế của công ty nhà nước; cơ cấu lại, xếp đặt cân đối hàng ngũ cán bộ; đẩy mạnh bồi dưỡng, huấn luyện, tăng lên trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực chỉ huy và tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ công ty nhà nước; có chế độ, chế độ hấp dẫn và sử dụng có hiệu quả lao động trình độ cao. Xây dựng chiến lược phát triển hàng ngũ cán bộ chỉ huy của doanh nghiệp nhà nước. Kiểm tra, tăng lên tiêu chuẩn, điều kiện về phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, quản lý và chuyên môn nghiệp vụ đối với người điều hành công ty nhà nước.

– Đảm bảo tính minh 3̣ch, công khai của công ty nhà nước và trách nhiệm giải trình của người điều hành doanh nghiệp, đặc biệt là về tài chính, đầu tư, sắm sắm, sử dụng vốn của Nhà nước, chi phí, kết quả kinh doanh, phân phối lợi nhuận, công tác cán bộ, các giao dịch lớn, giao dịch với người có liên can tới người quản lý, tài sản và thu nhập của người quản lý theo các chuẩn mực quốc tế và quy định của pháp luật. Hoàn thiện chế độ kế toán, kiểm toán và hệ thống 3́o cáo tài chính phù hợp với chuẩn mực quốc tế.

Giải pháp này đã cụ thể hoá chủ trương của Đảng trong Đại hội XII “3̉o đảm công khai, minh 3̣ch về đầu tư, tài chính và các hoạt động của doanh nghiệp”.

8. Về quản lý nhà nước và thực hiện chức năng chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước

– Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII) có quan điểm: Tăng lên hiệu lực, hiệu quả điều hành, giám sát, rà soát, kiểm soát đối với hoạt động của công ty nhà nước; ko để xảy ra thất thoát, phung phí vốn, của cải nhà nước. Tách bạch, phân định rõ tính năng chủ nhân của cải, vốn của Nhà nước với tính năng điều hành nhà nước đối với mọi loại hình công ty, tính năng quản trị kinh doanh của công ty nhà nước. Đẩy mạnh huấn luyện, bồi dưỡng, tăng lên trình độ, năng lực quản trị, nhân phẩm đạo đức để kiện toàn hàng ngũ cán bộ chỉ huy, điều hành công ty nhà nước.

Quan điểm này mới so với Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) và khởi hành từ thực tiễn yếu kém, giảm thiểu của công việc điều hành, thanh tra, giám sát, rà soát, kiểm soát đối với công ty nhà nước và nhân phẩm, trình độ, năng lực điều hành của cán bộ chỉ huy, điều hành của công ty nhà nước. Cùng lúc, Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII) đã chú trọng tới việc tách bạch 3 tính năng điều hành nhà nước đối với công ty, tính năng chủ nhân của cải, vốn của Nhà nước và tính năng quản trị kinh doanh của công ty nhà nước theo đúng ý thức Đại hội XII của Đảng. Trong lúc, Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) mới chỉ nhắc đến phân biệt tính năng của cơ quan đại diện chủ nhân của nhà nước với tính năng quản lý sản xuất, kinh doanh của công ty.

Đại hội XII của Đảng có chủ trương: “Tách tính năng chủ nhân của cải, vốn của Nhà nước và tính năng điều hành nhà nước, tính năng quản trị kinh doanh của công ty nhà nước; sớm xóa bỏ tính năng đại diện chủ nhân nhà nước của các bộ, ủy ban quần chúng đối với vốn, của cải nhà nước tại các công ty. Thành lập 1 cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ nhân đối với công ty nhà nước”.

– Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII) đã xác định rõ lộ trình thành lập 1 cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ nhân đối với công ty nhà nước và cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp chậm nhất tới 5 2018.

– Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII) đã đề ra một số giải pháp tăng lên hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước như sau:

+ Kiểm tra, hoàn thiện hệ thống luật pháp, chế độ, chế độ về doanh nghiệp nhà nước.

+ Tăng lên năng lực, hiệu lực, hiệu quả công việc thanh tra, rà soát, kiểm toán, giám sát của cơ quan điều hành nhà nước đối với công ty nhà nước; phòng ngừa, phát hiện và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí trong doanh nghiệp nhà nước. Quy định rõ bổn phận của các cơ quan thanh tra, cơ quan kiểm toán về kết quả thanh tra, kiểm toán đối với công ty nhà nước. Hoàn thiện hệ thống giám sát, mục tiêu đánh giá chừng độ an toàn, hiệu quả hoạt động, xếp loại công ty nhà nước và người đại diện chủ sở hữu cổ phần, vốn góp của Nhà nước. Xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất, đồng bộ về doanh nghiệp nhà nước và vốn, tài sản của Nhà nước tại công ty.

+ Đẩy mạnh công việc lãnh đạo, rà soát, giám sát việc tiến hành các kế hoạch, phương án cổ phần hoá, thoái vốn nhà nước đã được xem xét. Đề cao trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương, tổ chức, tư nhân đại diện chủ nhân nhà nước, nhất là người đứng đầu trong việc tiến hành chủ trương của Đảng, chế độ, luật pháp của Nhà nước, kế hoạch, phương án cơ cấu lại, đổi mới công ty nhà nước.

+ Nhà nước thực hiện đầy đủ trách nhiệm của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước, cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại công ty; thực sự đóng vai trò là nhà đầu tư, chủ sở hữu, bình đẳng về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm với các nhà đầu tư khác trong doanh nghiệp. Bảo đảm quyền tự chủ trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước theo nguyên tắc thị trường. Tôn trọng tính độc lập trong việc tiến hành quyền và bổn phận của hội đồng thành viên, hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng thành viên, chủ tịch hội đồng quản trị, giám đốc điều hành, ban quản lý công ty nhà nước để hoạt động và quản trị của doanh nghiệp nhà nước được thực hiện một cách minh 3̣ch, giải trình, chuyên nghiệp, hiệu quả cao.

+ Khẩn trương thành lập 1 cơ quan chuyên trách của Nhà nước làm đại diện chủ nhân đối với doanh nghiệp nhà nước theo hướng: (1) Thực hiện quyền, bổn phận của đại diện chủ nhân nhà nước đối với công ty nhà nước, cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại công ty; (2) Phê duyệt và giám sát việc tiến hành các chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty thích hợp với kế hoạch tăng trưởng kinh tế – xã hội, quy hoạch tăng trưởng ngành; (3) Phối hợp với các cơ quan có liên can tiến hành đúng quy định của luật pháp về công việc tổ chức – cán bộ tại công ty.

Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII) đưa ra các biện pháp định hướng tách bạch rõ tính năng điều hành nhà nước và tính năng chủ nhân nhà nước, trong đấy nêu rõ bổn phận của Nhà nước. Trong việc tiến hành tính năng điều hành nhà nước, Nghị quyết chú trọng tới việc hoàn thiện hệ thống luật pháp, tăng lên hiệu lực, hiệu quả thanh tra, rà soát, kiểm toán, giám sát. Trong việc tiến hành tính năng chủ nhân, Nhà nước tiến hành đầy đủ các quyền, trách nhiệm, bổn phận của nhà đầu cơ, chủ nhân đồng đẳng với các nhà đầu cơ khác theo quy định của luật pháp nhằm đảm bảo môi trường quản trị, kinh doanh lành mạnh và hấp dẫn nhà đầu cơ tham dự vào công ty nhà nước.

Trong lúc Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) xác định: “phân định rõ quyền điều hành hành chính kinh tế của Nhà nước và điều hành sản xuất kinh doanh của công ty. Cơ quan điều hành nhà nước căn cứ vào quy định của luật pháp và đề nghị điều hành nhưng mà ban hành đồng bộ hệ thống văn bản pháp quy để tiến hành tính năng điều hành nhà nước đối với công ty thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đấy có công ty nhà nước. Phân định rõ quyền của các cơ quan nhà nước tiến hành tính năng chủ nhân đối với công ty nhà nước. Chính phủ hợp nhất điều hành và tổ chức tiến hành các quyền của chủ nhân đối với công ty nhà nước”.

9. Về đổi mới mẫu hình tổ chức và phương thức chỉ huy của tổ chức Đảng tại công ty nhà nước

So với Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX), Nghị quyết số 12-NQ/TW (khóa XII) lần này có một số giải pháp quan trọng là:

– Tăng lên hiệu quả và vai trò chỉ huy toàn diện của tổ chức đảng tại công ty nhà nước trong việc chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước, xây dựng và tiến hành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, sử dụng, 3̉o toàn và phát triển vốn của Nhà nước, công việc chính trị, tư tưởng, công việc cán bộ, công việc rà soát, giám sát; tranh đấu phòng, chống tham nhũng, phung phí; chỉ huy các tổ chức chính trị – xã hội trong công ty, phát huy dân chủ cơ sở.

– Quy định rõ bổn phận của cấp uỷ, người đứng đầu tổ chức đảng trong công ty nhà nước lúc để xảy ra thua lỗ, tổn thất trong hoạt động và vi phạm chủ trương của Đảng, chế độ, luật pháp của Nhà nước.


#1 #số #điểm #mới #của #Nghị #quyết #số #12NQTW #về #Tiếp #tục #đổi #mới #cơ #cấu #lại #và #nâng #cao #hiệu #quả #doanh #nghiệp #nhà #nước

Vik News

Lê Thị Thanh Loan

Cô giáo Lê Thị Thanh Loan tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Hiện nay, Cô đang giảng dạy tại trường Trường tiểu học Văn Thủy

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button