Tổng hợp

Văn mẫu lớp 12: Phân tích khổ thơ 3 và 4 bài thơ Sóng (2 Dàn ý + 9 mẫu)

Phân tích khổ thơ 3 và 4 bài thơ Sóng giúp chúng ta cảm thu được nỗi niềm của người đàn bà trong tình yêu. Đấy là 1 tình yêu đượm đà khẩn thiết nhưng mà ko kém phần nồng nhiệt da diết. Đây cũng chính là 1 hồn thơ đầy bẩm tính nữ. Gieo vào lòng người những cảm xúc nhẹ nhõm về tình yêu nhưng mà cũng đủ lắng đọng để ta phải chiêm nghiệm.

van mau lop 12 phan tich kho tho 3 va

Phân tích khổ 3 và 4 bài thơ Sóng gồm 2 dàn ý cụ thể kèm theo 9 mẫu được Vik News tuyển chọn từ bài làm hay của học trò giỏi trên cả nước. Thông qua tài liệu này giúp các em học trò lớp 12 ôn tập, thu thập vốn từ để viết văn ngày 1 hay hơn. Ngoài ra các bạn tham khảo thêm rất nhiều bài văn hay khác tại phân mục Văn 12. Chúc các bạn học tốt.

Dàn ý phân tách khổ 3, 4 bài Sóng ngắn gọn

1. Mở bài

  • Nói đến những nét chính về tác giả Xuân Quỳnh.
  • Giới thiệu bài thơ Sóng, tóm lược nội dung ý nghĩa của tác phẩm.
  • Dẫn dắt vấn đề trong bài viết về khổ 3 4 bài Sóng.

2. Thân bài

  • Hình tượng sóng cùng những trằn trọc của em.
  • Những băn khoăn và suy tư của nữ sĩ trước biển mập.
  • Những nỗi nhớ nhung dễ thương trong tình yêu của em.

3. Kết bài

  • Tóm lược trị giá nội dung và nghệ thuật của bài thơ cũng như khổ 3 4
  • Thể hiện những cảm nhận và nghĩ suy của bản thân lúc mày mò khổ 3 4.

Dàn ý khổ 3 và 4 bài thơ Sóng đầy đủ

1. Mở bài:

– Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm:

  • Xuân Quỳnh là 1 khuôn mặt điển hình của phong trào thơ trẻ chống Mĩ với hồn thơ rất mực trẻ trung, tươi mát, đầy nữ tính.
  • Có thể nói, cộng với “Thuyền và biển”, “Thơ tình cuối mùa thu”, bài thơ “Sóng” đã kết tinh được tất cả những gì là sở trường nhất của hồn thơ Xuân Quỳnh.

– Khái quát nội dung khổ 3 và 4: hình tượng sóng đã trình bày niềm khát khao của người thanh nữ muốn được yêu, được sống trong 1 tình yêu hạnh phúc chung thủy.

2. Thân bài:

* Khái quát về hình tượng “sóng”

– Hình tượng trung tâm và nổi bật trong bài thơ là hình tượng “sóng”, bao trùm cả bài thơ là hình tượng sóng.

+ Nhựa sống và vẻ đẹp tâm hồn của thi sĩ trẻ cũng như mọi thông minh nghệ thuật trong bài thơ đều gắn liền với hình tượng sóng. Cả bài thơ là những con sóng tâm sự của 1 người đàn bà được khơi dậy lúc đứng trước đại dương.

+ “Sóng” là 1 trong những hình tượng ẩn dụ, nó là sự hóa thân của cái tôi trữ tình của Xuân Quỳnh. “Sóng” và “em”, vừa hòa hợp là 1, lại vừa phân đôi để soi chiếu, cộng hưởng. Tâm hồn người đàn bà đang yêu soi vào sóng để thấy rõ lòng mình, nhờ sóng để bộc lộ những tình trạng của lòng mình.

-> Với hình tượng sóng, có thể nói Xuân Quỳnh đã tìm được 1 cách trình bày thật xác đáng tâm cảnh của người đàn bà trong tình yêu.

– Hình tượng sóng đã gợi ra trong cả bài thơ bằng âm điệu: Bài thơ có 1 âm hưởng dào dạt, ăn nhịp, khi sôi nổi trào dâng, khi nói thầm sâu lắng, gợi âm hưởng của những đợt sóng triền miên, bất tận. Âm hưởng đó được tạo lập nên bởi thể thơ 5 chữ, với những câu thơ liền mạch, từng ko ngắt nhịp, các khổ thơ được gắn kết với nhau bằng cách nối vần (“Khi nào ta yêu nhau”… “Con sóng dưới lòng sâu”).

-> Nhịp sóng đấy cũng chính là nhịp lòng của tác giả, 1 tâm cảnh đang xao động, trào dâng, triền miên và chất chứa những khao khát, rộn rực.

* Đoạn thơ là 1 khám phá về sóng, mỗi khổ thơ sóng lại xuất hiện 1 ý nghĩa khác

“Ôi con sóng… ngực trẻ”

– Tới khổ 3 của bài thơ, sóng lại hiện lên với 1 ý nghĩa khác: Nguồn gốc của sóng cũng là xuất xứ bí mật của tình yêu. Đứng trước biển, người đàn bà muốn giảng nghĩa về xuất xứ của sóng để tìm lời đáp cho câu hỏi về sự khởi nguồn của tình yêu trong trái tim mình.

“Sóng mở màn… ta yêu nhau”

-> Mọi phấn đấu để giảng nghĩa về tình yêu của Xuân Quỳnh chung cuộc phát triển thành bất lực. Nhà thơ “thú nhận” thành thực, hồn nhiên nhưng mà ko kém ý nhì, thâm thúy: “Em cũng ko biết nữa – Khi nào ta yêu nhau”.

3. Kết bài:

– Khái quát lại nội dung 2 khổ thơ.

– Cảm nhận của em: Tình yêu xoành xoạch quan trọng với cuộc sống của mỗi con người, mỗi chúng ta người nào cũng có quyền yêu và được yêu. Và tình yêu của tuổi xanh là tình yêu mãnh liệt và xúc cảm trong trắng nhất.

Phân tích khổ thơ 3 và 4 bài thơ Sóng – Mẫu 1

“Sóng” là bài thơ tình kiệt tác của Xuân Quỳnh (1942-1988). Bài thơ được viết theo thể ngũ ngôn thiên trường gồm có 38 câu thơ. Qua hình tượng “sóng”, Xuân Quỳnh đã trình bày niềm khát khao của người thanh nữ muốn được yêu, được sống trong 1 tình yêu hạnh phúc chung thủy.

4 khổ thơ dưới đây trích trong phần đầu bài thơ. Hình tượng “sóng” trong sự liên hệ đối sánh với đối tượng trữ tình “em” đã mang đến cho tâm hồn ta bao gợi cảm phong phú bất thần:

“Ôi con sóng ngày xưa

Lòng em nhớ tới anh
Cả trong mơ còn thức”.

Sóng là hiện tượng muôn thuở của biển cả rộng lớn. Còn vũ trụ, đất trời thì còn có biển cả; biển cả còn thì còn “muôn trùng sóng bể”. Sóng là nhựa sống vĩnh hằng, diệu kì của biển, trường tồn trong dòng chảy thời kì: “Ôi con sóng ngày xưa – Và ngày sau vẫn thế Từ “ôi” cảm thán cất lên đầy xúc động ngất ngây của 1 nỗi niềm. Sóng của biển cũng như tình yêu là chuyện muôn thuở của đôi lứa, là “khát vọng” của trai gái lâu nay. Sóng reo, sóng vỗ trên đại dương mênh mang cũng như “con sóng” tình yêu biến hóa hết sức, khi thì “dữ dội và dịu êm”, khi thì “ồn ã và âm thầm” khiến cho trái tim tuổi xanh rung động, xao xuyến, “bổi hổi”:

“Nỗi khát vọng tình yêu
Bổi hổi trong ngực trẻ”.

Hình tượng “sóng” trong những vần thơ ngọt ngào khẩn thiết đầy gợi cảm mang tính nhân vãn. “Trước muôn trùng sóng bể” của biển cả mênh mang, lớp lớp sóng Hên hồi, bất tận, thanh nữ “bổi hổi” nghĩ về quy luật của sự sống, về sự trường tổn của biển cả, về nguyên do diệu kì nào nhưng mà có “sóng lên”. Rồi thanh nữ bâng khuâng nghĩ về mối nhân duyên của mình, về tình yêu của “em” và “anh”. Điệp ngữ: “Em nghĩ về … Em nghĩ về … liên kết với câu hỏi tu từ: “Từ nơi nào sóng lên?” đã khiến cho giọng thơ nồng cháy, si mê,xúc cảm bâng khuâng miên man dào dạt dâng lên. Hình tượng “sóng” và sự liên tưởng phong phú được diễn đạt 1 cách thi vị:

“Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển mập
Từ nơi nào sóng lên”.

Hỏi sóng rồi hỏi gió: “Gió tính từ lúc đâu?”. Rồi thanh nữ lại tự hỏi trái tim mình, tự hỏi lòng mình: “Khi nào ta yêu nhau”. Đấy là tâm cảnh của “em”, của bất kỳ chàng trai cô gái nào trong tình yêu. Và phải là mối tình mới có câu hỏi đó. Tinh yêu đã tới với “em” tự bao giờ, nhưng mà cái khắc khoải “thắm lại” của 2 tâm hồn “anh” và “em”, đâu dễ giải đáp. Ông chúa thơ tình Xuân Diệu đã viết: ” Làm sao giảng nghĩa được tình yêu”… Tuy ko giải đáp được câu hỏi: “Khi nào ta yêu nhau?” nhưng mà cái phút giây thần tiên của mối tình đầu mãi mãi được ghi sâu trong lòng người:

“Cái thuở thuở đầu đầy bịn rịn đó
Nghìn 5 chưa dễ đã người nào quên?”

(Thế Lữ)

Sức gợi cảm của hình tượng “sóng” thật phong phú và bất thần. Sóng còn đó trong tình trạng “động”, trong mọi ko gian “dưới lòng sâu” hay “trên mặt nước” tầng phân khúc lớp “muôn trùng sóng bể”. Có sóng ngầm và nhấp nhô sóng biếc. Sóng được nhân hóa, sóng thao thức suốt sớm hôm trong mọi thời kì: “Sóng nhớ bờ”, trong mọi tình trạng: “Sóng ko ngủ được”. Sóng được cảm nhận bằng thính giác, bằng thị giác, bằng tri giác và cả bằng tâm hồn. Hình tượng “sóng” càng phát triển thành thơ mộng gợi cảm:

“Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm ko ngủ được”.

Cấu trúc song hành, đối xứng: “dưới lòng sâu // trên mặt nước”, “ngày // đêm”, “nhớ bờ // ko ngủ được” và điệp ngữ “con sóng” đã khiến cho tiếng nói thơ tương hợp hài hòa, âm điệu, giai điệu thơ ăn nhịp, uyển chuyển, si mê và ngọt ngào. Nhạc của thơ, vị ngọt tình yêu như được hòa quyện trong ko gian, chỉ mất khoảng, và cả trong lòng người.

Xuân Quỳnh có khi mượn “thuyền” và “biển” làm ẩn dụ để nói lên nỗi thương nhớ của đôi lứa:

“Những ngày ko gặp nhau
Biển bạc đầu nhớ thương
Những ngày ko gặp nhau
Lòng thuyền đau sứt mẻ…”.

(Thuyền và biển)

Từ hiện tượng “sóng nhớ bờ”, nữ sĩ liên tưởng tới nỗi nhớ “em nhớ tới anh”, 1 nỗi nhớ da diết, miên man, bổi hổi khôn cùng kể, cả trong cõi thực và cả trong cơn mơ, trong tinh thần và cả trong tâm thức:

“Lòng em nhớ tới anh
Cả trong mơ còn thức”.

Sóng là quy luật đi lại của vũ trụ, của biển cả. Hình dung “sóng nhớ bờ” rồi liên hệ, đối sánh với “em”, với nỗi niềm “lòng em nhớ tới anh…” thật bất thần, thú vị. Ca dao nói nhiều về nỗi nhớ của trai gái làng quê. Có nỗi nhớ day dứt khôn nguôi: “Nhớ người nào nhớ mãi thế này?- Nhớ đêm quên ngủ, nhớ ngày quên ăn”. Có nỗi nhớ phấp phỏng, ngơ ngẩn: “Nhớ người nào ra ngẩn vào ngơ- Nhớ người nào người nào nhớ hiện giờ nhớ người nào”. Có nỗi nhớ bổi hổi: “Nhớ người nào bồi hồi bổi hổi – Như đứng đống lửa, như ngồi đống than. Qua đấy, ta mới cảm thấy nỗi nhớ của “em”, đối tượng trữ tình trong bài thơ “Sóng”: “Lòng em nhớ tới anh – Cả trong mơ còn thức” là thâm thúy, bất thần, mới mẻ.

5 1962, nhà thơ Xuân Diệu viết bài thơ tình “Biển” trong đấy hình tượng “sóng” là ẩn dụ về chàng trai đa tình, yêu si mê, nồng hậu:

“Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ thật êm
Hôn êm ả mãi mãi”…

Bài thơ “Biển” là 1 thách thức mập đối với Xuân Quỳnh. 5 5 sau, bài có mặt trên thị trường, ẩn dụ “sóng” nói về thanh nữ trong mối tình đầu với bao nhân phẩm tốt đẹp. Đấy là thông minh, có thể nói là “bất thần”.

Người thanh nữ trong bài thơ “Sóng” đã “tự hát” về nỗi khát khao được mến thương, được sống chung thủy trong tình yêu hạnh phúc. Hình tượng “sóng” gợi lên bao xúc cảm mạnh bạo, nồng cháy, phong phú và bất thần. Sóng thật mãnh liệt. Em thật nồng cháy đam mê bởi lẽ với em thì tình yêu là “khát vọng”.

Phân tích khổ thơ 3 và 4 bài thơ Sóng – Mẫu 2

1637613160 129 van mau lop 12 phan tich hai kho tho dau

Hình tượng “sóng” trong những vần thơ ngọt ngào khẩn thiết đầy gợi cảm mang tính nhân bản. “Trước muôn trùng sóng bể” của biển cả mênh mang, lớp lớp sóng biển trải dài bất tận, thanh nữ “bổi hổi” nghĩ về quy luật của sự sống, về sự trường tồn của biển cả, về nguyên do diệu kì nào nhưng mà có “sóng lên”. Rồi thanh nữ bâng khuâng nghĩ về mối nhân duyên của mình, về tình yêu của “em” và “anh”. Nổi trội nhất là điệp ngữ: “Em nghĩ về … Em nghĩ về … liên kết với câu hỏi tu từ: “Từ nơi nào sóng lên?”.

Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển mập
Từ nơi nào sóng lên?

Sức gợi cảm của hình tượng “sóng” thật phong phú và bất thần. Sóng còn đó trong tình trạng “động”, trong mọi ko gian “dưới lòng sâu” hay “trên mặt nước” tầng phân khúc lớp “muôn trùng sóng bể”. Có sóng ngầm và nhấp nhô sóng biếc. Sóng được nhân hóa, sóng thao thức suốt sớm hôm trong mọi thời kì: “Sóng nhớ bờ”, trong mọi tình trạng: “Sóng ko ngủ được”. Sóng được cảm nhận bằng thính giác, bằng thị giác, bằng tri giác và cả bằng tâm hồn. Hình tượng “sóng” càng phát triển thành thơ mộng gợi cảm:

Hỏi sóng rồi hỏi gió: “Gió tính từ lúc đâu?” rồi lại “Khi nào ta yêu nhau”. Đấy là tâm cảnh của “em”, của bất kỳ chàng trai cô gái nào trong tình yêu. Và phải là mối tình mới có câu hỏi đó. Tình yêu đã tới với “em” tự bao giờ, nhưng mà cái khắc khoải của 2 tâm hồn “anh” và “em” đó đâu dễ giải đáp. Ở khổ 4 đối tượng trữ tình đã dùng lí trí “em nghĩ” tới 2 lần nhưng mà bất lực “em cũng ko biết nữa”. Nó đã biến thành 1 lời thú nhận thành thật, dễ thương: ko biết xuất xứ của sóng, xuất xứ của tình yêu

Sóng tính từ lúc gió
Gió tính từ lúc đâu?
Em cũng ko biết nữa
Khi nào ta yêu nhau

Xuân Quỳnh có khi mượn “thuyền” và “biển” làm ẩn dụ để nói lên nỗi thương nhớ của đôi lứa:

“Những ngày ko gặp nhau
Biển bạc đầu nhớ thương
Những ngày ko gặp nhau
Lòng thuyền đau sứt mẻ…”.

(Thuyền và biển)

5 1962, nhà thơ Xuân Diệu viết bài thơ tình “Biển” trong đấy hình tượng “sóng” là ẩn dụ về chàng trai đa tình, yêu si mê, nồng hậu:

“Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ thật êm
Hôn êm ả mãi mãi”…

Song tới với bài thơ “Sóng”, Xuân Quỳnh đã viết nên 1 nhạc điệu tuyệt vời cho tình yêu lứa đôi. Bài sóng sóng là quy luật đi lại của vũ trụ, của biển cả. Hình dung “sóng nhớ bờ” rồi liên hệ, đối sánh với “em”, với nỗi niềm “lòng em nhớ tới anh…” thật bất thần, thú vị.

Trong kho tàng ca dao dân ca có rất nhiều câu nói về nỗi nhớ da diết của đôi trai gái. Có nỗi nhớ day dứt khôn nguôi: “Nhớ người nào nhớ mãi thế này?- Nhớ đêm quên ngủ, nhớ ngày quên ăn”. Có nỗi nhớ phấp phỏng, ngơ ngẩn: “Nhớ người nào ra ngẩn vào ngơ – Nhớ người nào người nào nhớ hiện giờ nhớ người nào”. Có nỗi nhớ bổi hổi: “Nhớ người nào bồi hồi bổi hổi – Như đứng đống lửa, như ngồi đống than. Qua đấy, ta mới cảm thấy nỗi nhớ của “em”, đối tượng trữ tình trong bài thơ “Sóng”: “Lòng em nhớ tới anh – Cả trong mơ còn thức” là thâm thúy, bất thần, mới mẻ.

Người thanh nữ trong khổ 3 và 4 bài sóng đã “tự hát” về nỗi khát khao được mến thương, được sống chung thủy trong tình yêu hạnh phúc. Hình tượng sóng gợi lên những rung động nồng cháy, còn “em” hiện lên thật đam mê bởi lẽ với em, tình yêu là 1 nỗi khát vọng nghe đâu kéo dài bất tận.

Phân tích khổ thơ 3 và 4 bài thơ Sóng – Mẫu 3

Tình yêu vốn là nguồn cảm hứng ko bao giờ cạn đối với mỗi thi sĩ, nhà văn. Với 1 trái tim mẫn cảm và khao khát mến thương, Xuân Quỳnh đã mượn hình ảnh sóng để viết nên 1 trong những thi phẩm hay và rực rỡ nhất trong sự nghiệp viết thơ của bà: “Sóng”. Đứng trước muôn trùng biển mập, nữ sĩ đã biểu lộ niềm trằn trọc, băn khoăn về khởi thủy của tình yêu lứa đôi:

“Trước môn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển mập
Từ nơi nào sóng lên
Sóng tính từ lúc gió
Gó tính từ lúc đâu?
Em cũng ko biết nữa
Khi nào ta yêu nhau”

Những câu thơ thốt ra lúc sóng đã chấm dứt nhiệm vụ vươn ra biển mập. “Giữa muôn trùng sóng bể” – con sóng đó đã phá vỡ được giới hạn của mình để đi đến đích kiếm tìm tình yêu chân chính. Đứng trước 1 nơi mênh mang như đại dương, “em” có dịp được nhìn nhận về anh, về chính mình và về tình yêu:

“Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển mập
Từ nơi nào sóng lên”

Đáng lẽ, cuộc hành trình vươn ra biển mập phải là của sóng nhưng mà ở đây, tác giả đã tương đồng hình tượng sóng và em, để ngầm nói rằng thật ra đây cũng chính là hành trình em đi tìm khởi thủy của tình yêu đôi lứa tinh khiết. Điệp ngữ “Em nghĩ về” liên kết với điệp cấu trúc câu trình bày niềm khao khát kiếm tìm thật sự, ao ước cháy bỏng được lý giải cặn kẽ nơi khởi sinh của tình yêu. “Từ nơi nào sóng lên?” – câu hỏi như nói hộ nỗi tâm sự của bao chàng trai cô gái lâu nay. Ai cũng mong muốn có được câu giải đáp: tình yêu ở đâu nhưng mà có, tình yêu từ đâu nhưng mà sinh ra? Nhưng tuyệt nhiên chưa người nào có thể lý giải được. Cho nên ko khó hiểu giả dụ người con gái đó còn trằn trọc, băn khoăn nhiều tới như thế này:

“Sóng tính từ lúc gió
Gió tính từ lúc đâu
Em cũng ko biết nữa
Khi nào ta yêu nhau?”

Càng yêu nhiều bao lăm người ta lại càng khát khao muốn thấu hiểu bấy nhiêu. Vì yêu nhưng mà con sóng đó đã phải đi muôn trùng vạn dặm để tìm ra khởi thủy, cũng như vì yêu anh nhưng mà em đã trằn trọc, băn khoăn nhiều lắm để kiếm tìm nơi khởi nguồn của tình yêu chân chính. Thế nhưng mà tình cảm vốn dĩ đã là 1 toàn cầu đầy bí mật, ko người nào có thể lý giải nổi và chính nữ sĩ cũng đã phải lắc đầu “Em cũng ko biết nữa”. Sóng hay gió bắt nguồn từ nơi nào chẳng người nào biết, cũng như tình yêu sinh ra vốn dĩ ko có điểm đầu và điểm cuối, ko có giới hạn và ko dễ gì kiếm tìm câu giải đáp. Vì thế nhưng mà người con gái đó dù khao khát, dù mãnh liệt thế nào cũng phải lắc đầu vì chẳng thể lý giải nổi. Tình yêu được đặt cạnh đại dương, phải chăng nữ sĩ đã ngầm khẳng định tình cảm đó rộng lớn như đại dương và dạt dào như những con sóng cuộc xô? Trân trọng tình cảm đấy do vậy người con gái cũng hoàn toàn bất lực trong phấn đấu kiếm tìm nơi khởi sinh của tình cảm. Tình yêu cũng rộng dài và bí mật như chính toàn cầu thiên nhiên vậy, ta yêu khi nào nhưng mà ta cũng chẳng hay biết, chỉ biết rằng có 1 thứ tình cảm giản dị nhưng mà thiên nhiên tới, khiến lòng ta chợt chơi vơi:

“Có người nào giảng nghĩa được tình yêu
Có khó gì đâu 1 buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu”

(Xuân Diệu)

Tình yêu vốn là đề tài thân thuộc trong thơ ca nhưng mà Xuân Quỳnh đã dùng ngòi bút của mình để viết nên 1 bài thơ đầy tính nữ. Hành trình kiếm tìm tình yêu của người con gái tuy gieo neo là thế nhưng mà cho thấy khao khát mến thương, khao khát thấu hiểu mãnh liệt để tìm được cho mình 1 tình yêu chân chính. Có nhẽ hiếm có tình cảm nào khiến con người bỗng phát triển thành táo tợn tương tự, cũng bởi vì yêu nhưng mà phát triển thành mạnh bạo. Xuân Quỳnh – 1 trái tim luôn đong đầy những mến thương đã thổi hồn vào những trang thơ như thế, để rồi bài thơ cứ lắng mãi vào lòng người đọc với cảm xúc thật ngọt ngào.

Ra đời trong tình cảnh khói bom những 5 1967, “Sóng” đã vượt thoát ra khỏi dòng thơ cách mệnh vốn rất tầm thường khi bấy giờ để mang lại cho người đọc xúc cảm thơ mới mẻ. Nó xứng đáng biến thành 1 trong những bài thơ tình hay nhất của thế kỉ XX.

Phân tích khổ thơ 3 và 4 bài thơ Sóng – Mẫu 4

Coi thơ là sự sống, là tình yêu, là tất thảy ý nghĩa cuộc đời mình, Xuân Quỳnh đã gửi trọn những hàn ôn, xúc cảm dạt dào, mãnh liệt của mình vào những trang thơ. Bài thơ “Sóng” của nữ sĩ là 1 lời sẻ chia tâm cảnh, xúc cảm được rất nhiều người đón chờ. Sau 2 khổ thơ đầu nói về hình tượng sóng và quy luật của tình yêu, khổ thơ 3 và 4 tiếp diễn để lại trong lòng người đọc những nghĩ suy, ấn tượng đặc thù.

Xuân Quỳnh tên khai sinh là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, 1 nghệ sĩ tinh tế và tài giỏi, người con của đất Hà Tây (nay là Hà Đông, Hà Nội). Đọc thơ Xuân Quỳnh, những xúc cảm, suy nghĩ nữ sĩ gửi vào đấy làm bao người đọc trằn trọc và mong muốn được sẻ chia cùng. Có những bài thơ tràn trề hạnh phúc đắm đuối, có những câu thơ đượm nỗi suy tư, trằn trọc. Sự đượm đà, dịu dàng nhưng mà cũng đầy mạnh bạo, táo tợn đã tạo điều kiện cho những xúc cảm đó đi vào thơ với dáng nét rất riêng, đậm chất Xuân Quỳnh. Với thi sĩ, văn học nghệ thuật nhưng mà đặc thù là thơ ca, có vai trò quan trọng, tựa như sự sống, tình yêu của cuộc đời mình: “Nếu mai sau em ko làm thơ nữa/ Cuộc sống trở về bình an/ Ngày nối nhau trên đường phố êm ả/ Không nỗi khổ, ko thú vui ngạc nhiên…”. Bài thơ “Sóng” được thi sĩ viết 5 1967 trong chuyến đi thực tiễn tới biển Diêm Điền, Thái Bình. Tác phẩm rút từ tập “Hoa dọc hào chiến đấu” xuất bản 5 1968, được xem như 1 bông hoa lạ giữa vườn thơ chống Mỹ. Hai khổ thơ đầu thi sĩ đã xây dựng hình tượng sóng với những quy luật của tình yêu. Tới với 2 khổ thơ tiếp theo là nhắc đến sóng và hành trình kiếm tìm khởi thủy của tình yêu.

Khổ 3, 4 trong bài là những dòng thơ nói về sóng và hành trình đi tìm kiếm khởi thủy của tình yêu:

“Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển mập
Từ nơi nào sóng lên?
Sóng tính từ lúc gió
Gió tính từ lúc đâu
Em cũng ko biết nữa
Khi nào ta yêu nhau”

Nghĩ về “yêu”, thi sĩ Xuân Diệu có viết:

“Yêu là chết ở trong lòng 1 ít
Vì mấy lúc yêu nhưng mà chắc được yêu
Cho rất nhiều song nhận chẳng bao lăm

Và cảnh đời là sa mạc cô liêu
Và ái tình là sợi dây quấn quýt
Yêu, là chết ở trong lòng 1 ít”

Với Xuân Diệu, “yêu là chết ở trong lòng 1 ít”. Với Xuân Quỳnh, bà gửi suy nghĩ về tình yêu qua hình tượng những con sóng. Nữ sĩ đưa ra 1 loạt các câu hỏi tu từ để từ đấy gửi gắm những suy nghĩ, trằn trọc: “Từ nơi nào sóng lên?”, “Gió tính từ lúc đâu?, “Khi nào ta yêu nhau”. Những câu hỏi tu từ này vừa tái hiện ảnh ảnh những con sóng ngoài biển cả mênh mang khi lắng xuống khi lại trào lên mạnh bạo, cùng lúc thi sĩ cũng thầm kín muốn nói đến những con sóng lòng nơi người con gái đang yêu. Từ hình ảnh những con sóng, thi sĩ mở màn đưa ta tới hành trình kiếm tìm khởi thủy của tình yêu và thử lý giải thực chất, ý nghĩa sâu xa của tình yêu. Xuân Diệu trong bài thơ “Tại sao” từng viết:

“Làm sao giảng nghĩa được tình yêu
Có nghĩa gì đâu, 1 buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu”

Xuân Diệu – ông hoàng thơ tình Việt Nam còn cảm thấy lúng túng trong việc khám phá và giảng nghĩa 2 chữ “tình yêu”. Xuân Quỳnh cũng vậy, bà cũng gửi nỗi trằn trọc đó vào thơ, vào bài “Sóng” lúc chân tình giải đáp rằng: “Em cũng ko biết nữa”. Thú nhận? Đúng, đấy là 1 lời thú nhận về sự bất lực của con người trước hành trình kiếm tìm nơi khởi nguồn của tình yêu. Song, đấy còn là 1 sự thức nhận. “Em”, hay có nhẽ cũng chính là thi sĩ đã thức trông thấy 1 chân lý: tình yêu là 1 thứ gì đấy hết sức thiêng liêng, xinh tươi, con người chúng ta chỉ có thể lặng lẽ ngắm nhìn, cảm nhận chứ không thể giảng nghĩa được.

Bài thơ “Sóng”, và đặc thù là hình tượng sóng đã phần nào trình bày được bộn bề những trằn trọc, bâng khuâng trong lòng thi sĩ Xuân Quỳnh. Nữ sĩ ngẫm về tình yêu – thứ tình cảm muôn thuở xinh tươi, thiêng liêng. Đấy có thể là thứ tình cảm mang trong mình nhiều đối lập. Và đọc khổ thơ 3, 4 ta hiểu được tình yêu trong cảm tưởng Xuân Quỳnh còn là 1 tình yêu đẹp chỉ có thể được cảm nhận nhưng mà chẳng thể kiếm tìm khởi thủy và giảng nghĩa, lý giải được nó. Từ chân lý đấy, người tình văn học, yêu thơ Xuân Quỳnh càng ấn tượng hơn với bài thơ “Sóng” và yêu quý cái nhìn nghệ thuật đầy tinh tế cùng cách trình bày sinh động, thông minh của thi sĩ.

Phân tích khổ thơ 3 và 4 bài thơ Sóng – Mẫu 5

1641194164 870 van mau lop 12 phan tich kho tho 3 va

Thơ Xuân Quỳnh dẫu có lắng tai bao lần, ta vẫn trông thấy trong đấy những thoáng mỏng manh lo sợ cùng nét đẹp của 1 hồn thơ mẫn cảm, giàu trực cảm. Và đấy, chính là nét nữ tính rất riêng làm nên bản sắc của Xuân Quỳnh, nhưng mà trong Sóng, tác giả đã hóa thân toàn vẹn nhất điệu hồn đó vào 2 khổ thơ 3 và 4.

“Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển mập
Từ nơi nào sóng lên?”

Đứng trước biển khơi bao la rộng lớn, tâm hồn mẫn cảm tinh tế của 1 trái tim yêu tự dưng trào lên những cảm xúc mãnh liệt về người mình nhớ thương. Cùng lúc, tình trạng đó cũng phần nào khẳng định trái tim yêu thiết tha mãnh liệt của Xuân Quỳnh, ở bất kỳ ko gian và thời kì nào, nỗi nhớ luôn hiện ảnh luôn trực trào lên. Từ câu hỏi về khởi thủy của cơn sóng – biểu trưng của sự sống, sự vĩnh cửu, vô tận, thi sĩ cất lên nỗi băn khoăn về xuất xứ của tình yêu. Đi từ tự nhiên bao la đầy những bí mật để gắn kết nó với nỗi niềm khắc khoải trong lòng người, quả nhiên, cách diễn tả của Xuân Quỳnh đã làm mềm đi rất nhiều thuộc tính nghi vấn trong lời gõ cửa của trái tim.

Đặc thù, nếu để mắt tới dấu phẩy cách trở ở câu thơ thứ 2 chính là 1 cách làm “điệu thơ” rất có duyên của Xuân Quỳnh. Nó khiến câu thơ vốn thuần tuý mang thuộc tính tự sự, tự dưng được thổi hồn để mang chút ngập dừng, âu lo vốn là nét đặc thù của hồn thơ Xuân Quỳnh – 1 hồn thơ mẫn cảm, giàu trực cảm. Câu thơ đã đặt cả người được nhớ và người đang nhớ vào trong 1 mạch chảy, làm cho xúc cảm thơ càng rộn rực, càng cho thấy tấm lòng của đối tượng trữ tình trong tình yêu.

“Sóng tính từ lúc gió
Gió tính từ lúc đâu
Em cũng ko biết nữa
Khi nào ta yêu nhau?”

Giải nghĩa, lý giải về xuất xứ của tình yêu đã từng có chàng nhà thơ Xuân Diệu với cặp mắt xanh non rờn biếc khẳng định: Làm sao giảng nghĩa được tình yêu? Nhưng, nếu ngay lúc vừa phủ định Xuân Diệu lại dí dỏm đưa ra câu giải đáp của mình:

“Có khó gì đâu 1 buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu”

Thì với Xuân Quỳnh chị ko ham lí giải, phân tách dù trong lòng có bao giận dữ đòi tìm ra tận bể, để được thấu hiểu, để được đồng điệu. Điều nhưng mà thi sĩ muốn bày tỏ ở đây là sự trình bày thiên nhiên tựa như 1 lời thổ lộ về mặt tình cảm hơn là trình bày sự phân tách lý tính rành mạch. Thậm chí, đấy còn là lời thú nhận rất duyên dáng và đậm chất nữ tính của thi sĩ về sự bất lực lúc chẳng thể, giảng nghĩa, lý giải được thực chất của tình yêu nhiệm màu: em cũng ko biết nữa. Cái lắc đầu rất nữ tính đó hóa ra là ẩn dấu sau nó còn là sự thấu hiểu thâm thúy và nhận thức được rõ ràng tình yêu, tự nó là 1 cuốn tự điển riêng, là 1 chân mây mới lạ nhưng mà ở đấy người ta chỉ có thể cảm nhận, chẳng thể giảng nghĩa. Tình yêu là 1 địa hạt chứa đựng những triết lí của riêng nó, nó là câu chuyện của trái tim và yêu cầu sự cảm nhận, lắng tai, nó nằm ngoài sự xét đoán của lý trí. Tựa như trái tim yêu của Xuân Quỳnh đã dành tất cả sự chân tình thiết tha để mong thấu hiểu được những nội hàm kì bí ở trong nó, nhưng mà giả dụ tình cảm và xúc cảm có thể cân đo đong đếm và giảng nghĩa, người ta đã chẳng còn hứng thú bởi những điều mới mẻ, diệu kì nhưng mà tình yêu đem đến.

Chính Ta-go trong bài thơ tình số 28 cũng đã bộc bạch:

“Trái tim anh lại là tình yêu
Nào người nào biết được chiều sâu và bờ bến của nó
Em là nữ đế của vương quốc đấy
Đó thế nhưng mà em có biết trọn nó đâu”.

Nhưng, nếu thơ Ta-go là ngôn ngữ hướng nội truy nã bản thể để hướng đến những suy tưởng triết lý thâm thúy thì thơ Xuân Quỳnh hướng ngoại để hướng nội, nên ở đây thuộc tính triết lý suy tưởng được giấu bên ngoài vẻ hồn nhiên trực cảm, do đấy dễ khêu gợi sự đồng điệu xúc cảm bên ngoài và đánh thức những suy tưởng bên trong bạn đọc.

Chỉ với 2 khổ thơ ngắn, nhưng mà cách diễn tả bé nhẹ cộng với những câu hỏi vừa như nghi vấn, vừa như thổ lộ đã phần nào lột tả nét nữ tính, mềm mại trong hồn thơ Xuân Quỳnh. Cùng lúc ở 2 khổ thơ này, người đọc cũng thấy thêm 1 nét mới mẻ nữa của những trái tim yêu trong hành trình tìm kiếm, đoạt được, lí giải khởi thủy của tình yêu.

Phân tích khổ thơ 3 và 4 bài thơ Sóng – Mẫu 6

Tình yêu là món quà vô giá nhưng mà thượng đế đã tặng thưởng con người. Đấy là tiếng lòng đồng điệu giữa những tâm hồn khao khát mến thương, đồng cảm, gắn kết trái tim lại với nhau. Có nhẽ chính thành ra nhưng mà tình yêu luôn là chủ đề muôn đời trong thơ ca. Nhắc tới thơ ca tình yêu, kế bên những danh tiếng mập như Puskin, Tago trên thi đàn toàn cầu, thì ta cũng ko quên nói đến những danh tiếng mập của nền văn chương Việt Nam như Xuân Diệu, Nguyễn Bính,… Và đại diện cho tình yêu nồng cháy đượm đà của người đàn bà, chẳng thể ko nói đến Xuân Quỳnh. Nữ sĩ viết rất nhiều về tình yêu, nhưng mà để lại dấu ấn sâu đậm phải kể tới bài thơ Sóng. Tác phẩm chính là tiếng lòng nhẹ nhõm nhưng mà cũng rất mạnh bạo của người đàn bà trong tình yêu, đặc thù ở khổ 3 và 4 của bài thơ.

Xuân Quỳnh tên khai sinh là Nguyễn Phạm Xuân Quỳnh, sinh 5 1922 mất 5 1980. Xuân Quỳnh từ bé sống chung và được bà nuôi mập. Chính những tháng ngày sống kế bên bà đã un đúc cho Xuân Quỳnh 1 hồn thơ nhẹ nhõm đầy nữ tính.

Nhắc tới Xuân Quỳnh người ta thường nghĩ ngay tới vai trò thi sĩ, nhưng mà ít người nào biết được nấc thang trước nhất Xuân Quỳnh tới với nghệ thuật là làm diễn viên múa. Xuân Quỳnh từng tham dự khóa học tại trường Bồi dưỡng những người trẻ viết văn (Khóa I) do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Sau đấy bà hoạt động tại các tờ báo mập như báo Văn nghệ, báo Phụ nữ Việt Nam. Xuân quỳnh còn là ủy viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Kế bên sự nghiệp văn chương, cuộc sống tư nhân của thi sĩ cũng đã có hạnh phúc. Tuy ở công đoạn đầu, Xuân Quỳnh có 1 cuộc hôn nhân ko toàn vẹn nhưng mà chung cuộc cô đã tìm thấy bên đỗ bình an kế bên Lưu Quang Vũ. Thế nhưng mà trong 1 tai nạn định mệnh, đã cướp mất đi 2 tài năng của văn chương Việt Nam là Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ.

Nhắc tới sự nghiệp sáng tác của Xuân Quỳnh, bà đã để lại cho đời 1 hồn nhẹ nhõm đượm đà. Sự nhẹ nhõm đó trình bày rõ ở cả 2 bình diện sáng tác của Xuân Quỳnh là thơ viết về tình yêu và thơ viết về thiếu nhi. Trong bài thơ Sóng, ta vẫn thấy 1 Xuân Quỳnh nhẹ nhõm sâu lắng nhưng mà ko kém phần dữ dội mãnh liệt. Mượn hình ảnh sóng nhưng mà Xuân Quỳnh đã khôn khéo đan cài vào sự vận động của sóng là những tình trạng tình cảm, xúc cảm của người đàn bà trong tình yêu.

Bắt đầu khổ 3 là 1 ko gian bao la rộng lớn:

“Trước muôn trùng sóng bể”

“Muôn trùng” ý chỉ số nhiều. Từ đấy gợi mở ko gian bao la rộng lớn. Biển vốn đã mênh mang nhưng mà giờ lại càng bao la hơn gấp bội trong cách liên kết “muôn trùng sóng bể”. Hình như chỉ có ko gian bao la mênh mang đó, sóng mới có thể thỏa sức tung hoành. Trong ko gian đó, sóng mới có thể là chính mình sống thật với những nghĩ suy xúc cảm Và đấy ko chỉ là ko gian hoạt động của sóng nhưng mà đấy còn là ko gian tâm khảm của chính em.

Trong ko gian bao la đó, con người thường thấy mình bé nhỏ. Bởi lẽ mặt biển nhìn có vẻ êm ả là thế nhưng mà bên dưới là sự đi lại ko dừng của nước. Thời gian cũng thế. Nó cứ diễn ra chậm rì rì con người ko cảm thu được. Nhưng từ phút chốc này đã khác phút chốc qua. Mọi thứ luôn đi lại ko dừng. Trong sự đi lại của thời kì đó con người chẳng thể làm được gì, chẳng thể can thiệp được chỉ đành phó mặc cho thời kì xô đẩy. Con người chẳng thể làm gì để thoát khỏi quy luật đó nên chỉ đành bùi ngùi chấp thuận như 1 lẽ thế tất của cuộc sống.

Dòng thời kì cũng như dòng nước cứ chảy mãi nghe đâu vô thủy vô chung với cuộc đời này. Đấy là tại sao đứng trước ko gian bao la rộng lớn con người luôn tinh thần được rõ ràng hơn bản thân mình. Xuân Quỳnh cũng vậy. Xuân Quỳnh cũng mở màn suy ngẫm về cuộc sống, suy ngẫm về tình yêu.

Nếu ở 2 khổ thơ đầu,

“Dữ dội và dịu êm
Ầm ĩ và âm thầm
Sông ko hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Ôi con sóng ngày xưa
Và hiện tại vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bổi hổi trong ngực trẻ”

sự hiện ra của đối tượng trữ tình “em” chỉ là sự hiện ra gián tiếp, thì tới câu thơ này, đối tượng trữ tình đã trực tiếp hiện ra

“Em nghĩ về anh em
Em nghĩ về biển mập”

Điệp cấu “em nghĩ về…” càng nhấn mạnh nỗi niềm. Nỗi niềm đó, suy tư đó chẳng phải của người nào, ko thay người nào nói nhưng mà đấy là nỗi niềm của riêng 1 mình Xuân Quỳnh, của chỉ riêng Xuân Quỳnh nhưng mà thôi.

Bài thơ mượn hình ảnh của sóng, đáng lẽ phải là “sóng nghĩ về” nhưng mà Xuân Quỳnh lại trực tiếp nói lên nỗi lòng mình. Hình như em và sóng đã hòa vào làm 1. Nói về sóng nhưng mà bản chất là nói về tình cảm của em dành cho anh. Xúc cảm trào dâng ko sao ngừng lại được như những đợt sóng dâng cao vỡ òa trong xúc cảm, để rồi từ đấy nhưng mà tan ra muôn ngàn tình cảm.

Đứng trước ko gian bao la đó, đáng lẽ điều trước nhất hoặc nhân vật trước nhất phải nghĩ tới đấy chính là bản thân. Nhưng với Xuân Quỳnh thì ko. Điều trước nhất hiển hiện trong tâm não của em đấy là anh. Chỉ có anh nhưng mà thôi. Anh luôn là điều trước nhất em nghĩ tới, là dành đầu tiên bậc nhất và nghe đâu đây đã đi sâu vào tâm thức của em. 1 lúc đã đi vào tâm thức thì ta cũng hiểu được tình cảm đó phải sâu đậm tới dường nào. Nghĩ tới anh rồi mới nghĩ tới em. Vậy nghĩ gì về anh nghĩ gì về em nghĩ gì về chúng ta. Có nhẽ câu giải đáp đích xác chỉ có thể em mới có thể giải đáp được nhưng mà thôi.

Tuy ko nói nhưng mà nghe đâu ta vẫn cảm thu được điều nhưng mà đối tượng “em” đang nghĩ gì khi này. Đấy là quay quanh chuyện tình yêu của anh và em. Chuyện tình mình liệu có thành? Liệu anh có yêu em thật lòng sâu đậm như cách em yêu anh ko? Liệu tình mình có đi tới cái đích chung cuộc của hạnh phúc hay chỉ lại là 1 sự dở dang?… Biết bao lăm lo lắng. Vì thế nhưng mà chẳng phải vô lý lúc các tác giả dân gian thường khắc họa nỗi lòng của cô gái trong tình yêu với biết bao lăm ngổn ngang toan lo như:

“Khăn nhớ thương người nào
Khăn vắt lên vai
Khăn nhớ thương người nào
Khăn chùi nước mắt
Đèn nhớ thương người nào
Nhưng mà đèn ko tắt
Mắt nhớ thương người nào
Mắt ngủ ko yên
Đêm qua em những lo phiền
Lo vì 1 nỗi ko yên 1 bề”

(Ca dao)

Hay những lời hàn ôn:

“Hòn đá đóng rong vì dòng nước chảy
Hòn đá bạc đầu vì bởi sương sa
Em thương anh ko dám nói ra
Sợ mẹ bằng biển, sợ cha bằng trời
Anh với em cũng muốn kết đôi
Sợ vầng mây bạc trên trời mau tan.”

(Ca dao)

Từ chuyện của em và anh tự dưng lại chuyển sang chuyện của sóng nước:

“Từ nơi nào sóng lên”

Sự biến đổi này có vẻ vô lý nhưng mà xét về quy luật của tâm cảnh thì nó lại ko vô lý chút nào. Bỏ lửng những dòng nghĩ suy về chuyện tình của anh và em về đích tới của mối tình này, để từ đấy hướng tới khởi thủy của tình yêu. Mạch xúc cảm cứ trào dâng, mãi ko thôi. Câu hỏi có vẻ ngô nghê “từ nơi nào sóng lên” còn chứa đựng nhiều hơn thế. Đi tìm quy luật của sóng biển cũng chính là kiếm tìm quy luật của tình yêu.

“Sóng tính từ lúc gió
Gió tính từ lúc đâu”.

Câu hỏi “từ nơi nào sóng lên” đã được diễn giải thuật thuyết phục. Sóng được tạo thành nhờ sự vận động của gió trên mặt nước. Vậy uẩn khúc trước nhất đã được gỡ bỏ. Nhưng liệu trái tim có thôi băn khoăn ko. Câu giải đáp là ko. Nối liền sự lí giải đấy lại tiếp diễn là 1 câu hỏi “gió tính từ lúc đâu”. Câu hỏi như muốn đi sâu hơn vào cái cỗi rễ khởi thủy của sóng hay của chính tình yêu nhưng mà lòng em đang thổn thức.

Nếu cứ kéo dài mãi liệu có thể đi tới cùng tận xuất xứ ko. Câu giải đáp là ko bởi lẽ cứ 1 vấn đề được trả lời thì 1 vấn đề khác lại phát sinh. Nên ta nhận lại được 1 cái lắc đầu mỉm cười duyên dáng trước lời tự hỏi đấy.

“Em cũng ko biết nữa”

Cái lắc đầu đầy đượm đà. Thật ra nếu trên giác độ lý trí khoa học thì hoàn toàn có thể lý giải được nơi phát khởi của gió – đấy là sự vận động của ko khí. Nhưng em đã chối từ nghĩ suy chối từ giải đáp. Bởi lý trí khi này chẳng có ý nghĩa gì chẳng là gì cả so với trái tim đang lỗi nhịp vì tình yêu. Đấy ko chỉ là cái lắc đầu ko biết gió khởi hành từ đâu nhưng mà còn là cái lắc đầu vì:

“Khi nào ta yêu nhau”

Câu hỏi này cũng là câu hỏi muôn đời trong tình yêu. Tình yêu là gì? Tại sao anh yêu em? Khi nào thì ta yêu nhau. Những câu giải đáp này nếu để giải đáp 1 cách lý trí thì thật khó để tìm ra đáp án. Nhưng có nhẽ rằng câu hỏi này chỉ có thể giải đáp bằng trái tim, trái tim mến thương sẽ chấp thuận mọi câu giải đáp nhưng mà nó muốn nghe, từ những người nhưng mà nó muốn nghe…

Em ko biết lúc nào tình ta mở màn, chẳng phải vì em ko yêu anh, cũng không phải vì tình yêu ta chưa đậm sâu. Nhưng mà vì trái tim em ko cần bất cứ lời giảng giải nào, bởi lẽ em biết mình yêu anh thế là đủ rồi.Tình yêu là thế càng đi tìm câu giải đáp thì càng thất vọng. Bởi lẽ tình yêu là chuyện của trái tim của xúc cảm như Xuân Diệu đã từng giảng nghĩa tình yêu như sau.

“Làm sao khái niệm được tình yêu
Có nghĩa gì đâu 1 buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu”

(Tại sao – Xuân Diệu)

Và em cũng chẳng biết tình mình mở màn lúc nào, em chỉ biết mình đã yêu anh lúc con tim rung động. Đấy là phút chốc tình yêu em dành cho anh chớm nở. Em cũng ko cần ân cần bởi lẽ điều em cần ngày nay là được sống trong tình yêu của anh, là ngày nay và mai sau của chúng ta sau này. Đi tìm về quy luật tình yêu để trân quý ngày nay hơn. Nhìn vào nó chẳng phải để bới móc, ân oán trách nhưng mà nhìn vào để thêm yêu phút chốc cạnh bên nhau.

Bằng việc sử dụng hình ảnh sóng, Xuân Quỳnh đã thật tinh tế trong việc đan cài vào đấy tình cảm của trái tim. Thể thơ 5 chữ gợi nhiều xúc cảm liên kết với với các hình ảnh gợi tả dã hình thành 1 nét nghĩa lạ mắt cho bài thơ. Sự thành công đó còn tới từ tiếng nói tường thuật có sự xen lẫn giữa giọng kể và giọng tâm sự. Người đọc đôi khi có cảm nghĩ sóng và em tuy 2 nhưng mà 1, cả 2 đã hòa vào nhau.

Chỉ với 2 khổ thơ ngắn gọn, cô đọng nhưng mà ta vẫn cảm thu được nỗi niềm của người đàn bà trong tình yêu. Đấy là 1 tình yêu đượm đà khẩn thiết nhưng mà ko kém phần nồng nhiệt da diết. Đây cũng chính là 1 hồn thơ đầy bẩm tính nữ. Gieo vào lòng người những cảm xúc nhẹ nhõm về tình yêu nhưng mà cũng đủ lắng đọng để ta phải chiêm nghiệm.

Phân tích khổ thơ 3 và 4 bài thơ Sóng – Mẫu 7

Trong dàn đồng ca các thi sĩ trẻ thời chống Mỹ cứu nước, Xuân Quỳnh nổi lên như 1 tiếng thơ đầy trẻ trung, tươi mát và nữ tính. Tình yêu trải qua ngòi bút của bà luôn in đậm dấu ấn cái tôi đàn bà nồng cháy, táo tợn nhưng mà hết sức thiết tha, chân tình. Tất cả điều đó được trình bày trong 1 tiếng thơ giản dị, hồn nhiên như bản năng – “Sóng”, đặc thù là khổ thơ 3 và 4.

Bài thơ là kết quả của chuyến đi thực tiễn ở lãnh hải Diêm Điền – Thái Bình cuối 5 1967, được đưa vào tập thơ “Hoa dọc hào chiến đấu” (1968). Con người Việt Nam thời gian kháng chiến lại viết về tình yêu, tình cảm riêng tây và vĩnh hằng nhất của loài người. Vì vậy, bài thơ được coi là “bông hoa lạ” nở “dọc hào chiến đấu” những 5 kháng chiến chống Mỹ. Sau 2 khổ thơ đầu về những quy luật của tình yêu, “em” vẫn chưa thỏa mình nhưng mà muốn truy nã căn do, xuất xứ của tình yêu.

Trước ko gian mênh mang biển mập, người già hay nghĩ về sự hư không, bé nhỏ của kiếp người; kẻ tráng trí hùng tâm lại 1 lòng: “Muốn vượt bể Đông theo cánh gió/ Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi” (Phan Bội Châu); kẻ đa cảm lại thấy: “Vắng cánh buồm 1 chút cũng lẻ loi” (Hữu Thỉnh). Còn Xuân Quỳnh, đứng trước biển lại là những nghĩ suy, cảm nhận chân thật và chi tiết nhất:

“Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển mập
Từ nơi nào sóng lên?”

Trước sự mãnh liệt và diệu kì của tình yêu, con người luôn có nhu cầu khám phá những bí mật vốn luôn còn đó trong nó, luôn muốn giảng nghĩa được khởi thủy của tình yêu. Song đấy lại là 1 tình trạng tâm lý dễ giả thích bằng những phép tắc thông thường, khó người nào có thể giải đáp 1 cách xác thực về nguyên do, khởi nguồn của tình yêu, cũng như lúc Xuân Diệu băn khoăn: “Làm sao giảng nghĩa được tình yêu?”. Câu hỏi: “Từ nơi nào sóng lên” nhẹ lơi như hơi thở, tưởng bâng quơ nhưng mà hóa ra bận rộn lòng người. Vẫn là ước vọng truy nã tới cùng tận bản thể: “Con người từ đâu tới? Nó sẽ đi về đâu? Tinh yêu từ nơi nào nhưng mà mập lên vậy?”

Khổ thơ tiếp theo lại là câu hỏi dập dồn như những con sóng nối liền tới hết sức, triền miên ko dứt, đưa con người đến những suy ngẫm bất tận:

“Sóng tính từ lúc gió
Gió tính từ lúc đâu?
Em cũng ko biết nữa
Khi nào ta yêu nhau”

Trả lời cho câu hỏi: “Từ nơi nào sóng lên?”, lời đáp thật dễ ợt, chóng vánh: “Sóng tính từ lúc gió”. Câu hỏi thứ 2 ráo riết hơn, lý trí muốn đẩy những băn khoăn tới tột độ: “Gió tính từ lúc đâu?”. Những câu hỏi tu từ khi ẩn duối chân sóng, khi lại trào lên đầu ngọn sóng như những trằn trọc. Nhân vật trữ tình ko cảm nhận về sóng nhưng mà nghĩ về sóng. Nương theo những con sóng, thi sĩ mở màn hành trình kiếm tìm nơi khởi nguồn tình yêu và phân tách, lý giải thực chất của tình yêu. Đấy cũng là mong muốn muôn thuở của biết bao lứa đôi. Câu giải đáp vừa là sự thú nhận, vừa là sự thức nhận: “Em cũng ko biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau”. Thú nhận về sự bất lực trên hành trình kiếm tìm khởi thủy tình yêu nhưng mà lại là sự thức nhận thâm thúy: tình yêu là điều diệu huyền, con người chỉ có thể cảm nhận chứ chẳng thể truy nã khởi thủy, cũng chẳng thể giảng nghĩa rõ ràng, tách bạch. Chẳng phải thể nhưng mà Xuân Diệu cũng san sẻ:

“Làm sao giảng nghĩa được tình yêu
Có khó gì đâu 1 buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu”

Xuân Diệu hỏi để lý giải còn Xuân Quỳnh nghiêng về ngôn ngữ tình cảm. Hỏi chỉ để cảm thu được sự hiện của tình yêu.

Như vậy, qua hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã trình bày được những chiêm nghiệm, suy ngẫm về khởi thủy của tình yêu cũng như cung bậc của người đàn bà đang yêu. Sự song hành quyết tượng sóng và em đã khắc họa vẻ đẹp vừa dịu dàng, tinh tế, vừa chủ động mãnh liệt, vừa truyền thống vừa tiên tiến của 1 tình yêu chân tình, thiết tha. Thể thơ 5 chữ với cách ngắt nhịp phóng túng đã trình bày tuyệt vời âm hưởng dào dạt của sóng biển, sóng lòng. Câu hỏi tu từ, hình ảnh thơ vừa thiên nhiên, trong trắng lại có sức gợi mở và suy tưởng tới ko ngờ.

1 nhà phê bình Pháp từng khẳng định: “Thơ, tự truyện của khát vọng” có nhẽ là dành cho Xuân Quỳnh. Thơ ca, với bà, là sự sống, là tình yêu, làm thơ là được sống với chính mình, sống đầy đủ và toàn vẹn mình. Đọc thơ Xuân Quỳnh, ta cũng cảm thu được tình yêu và nghe được khát vọng trong mình. Đấy là lý do, vượt qua sự băng hoại thời kì, thơ ca đã, vẫn và sẽ sống cùng ta tới ngày tận thế.

Phân tích khổ thơ 3 và 4 bài thơ Sóng – Mẫu 8

Cuộc đời là đóa hoa, tình yêu là mật ngọt”, đại văn hào V.Hugo đã từng phải thốt lên tương tự. Tình yêu là món quà vô giá nhưng mà tạo hóa tặng thưởng cho nhân loại. Đấy cũng là nguồn cảm hứng ko bao giờ vơi cạn đối với các văn nghệ sĩ. Nhắc đến thơ tình Việt Nam tiên tiến, người đọc chẳng thể ko nói đến nữ đế tình yêu Xuân Quỳnh – người đã mang đến cho làng thơ Việt Nam 1 tình yêu nồng hậu, táo tợn nhưng mà khẩn thiết, dịu dàng, hồn nhiên, giàu tự cảm nhưng mà lắng sâu những trải nghiệm suy tư. “Sóng” là 1 trong áng tình khúc hay nhất của Xuân Quỳnh. Đứng trước biển mập , Xuân Quỳnh đã biểu lộ rõ nỗi trằn trọc, băn khoăn của mình về khởi thủy cua tình yêu”

Trước môn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển mập
Từ nơi nào sóng lên

Sóng tính từ lúc gió
Gó tính từ lúc đâu
Em cũng ko biết nữa
Khi nào ta yêu nhau

Dòng thơ “Trước muôn trùng sóng bể” cho thấy sóng đã ra đến bể, đã chấm dứt cuộc hành trình kì công. Đối diện trước biển mập là đối diện trước cõi bất tận, hết sức của 1 không gian sống mới khác hẳn dòng sông bé hẹp lúc xưa nên niềm khao khát cũng phát sinh 1 cách thiên nhiên và thế tất. Lẽ thường ở khổ thơ này, thi sĩ phải viết “sóng nghĩ về’ nhưng mà thi sĩ lại viết “em nghĩ về” nhằm hình thành sự tương đồng giữa sóng và em. Hành trình của sóng cũng là hành trình của em. Trong điệp khúc Em nghĩ về anh, em – Em nghĩ về biển mập” ẩn giấu niềm khao khát của 1 đàn bà về tình yêu, về bản thân, về không gian sống mới.

Từ nơi nào sóng lên

Đấy là câu hỏi từng khiến bao đôi lứa băn khoăn và cũng chẳng người nào có thể giải đáp được 1 các rõ ràng, phân minh được. Càng đam mê bao lăm, càng thấy tình yêu kì bí bất nhiêu. Người ta thường thiêng liêng hóa tình yêu của kiếp này biết đâu lại là sự hò hẹn của kiếp sau. Nữ sĩ Xuân Quỳnh cũng ko ngoại lệ, cũng băn khoăn, thắc mắc, chăn chở đi tìm lời trả lời. Nhưng chung cuộc Xuân Quỳnh cũng phải thú nhận bằng cái gật đầu đáng yêu:

Em cũng ko biết nữa
Khi nào ta yêu nhau

Điều thú vị là ẩn sau cái lắc đầu đáng yêu rất con gái đó, người đọc, khám phá ra những khái niệm mơ hồ nhưng mà thú vị, tình yêu của nữ sĩ Xuân Quỳnh. Trước muôn trùng sóng bể, trước biển mập, vì sao nữ sĩ lại nghĩ bề anh, em; nghĩa là tình yêu của đôi mình? Có phải chăng tình yêu đôi ta cũng mênh mang, thăm thẳm như biển mập, biển cả. Sóng, biển ,gió trời từ nơi nào nhưng mà có? “Em cũng ko biết nữa” và tình yêu cũng vậy. Nào có người nào biết điểm đầu, điểm cuối, nào người nào biết nơi phát khởi và điểm kết thức của tình yêu. Tình yêu muôn thuở vẫn khó hiểu như chính toàn cầu thiên nhiên vậy. Tình yêu tới và đi có lúc chỉ như 1 cơn gió thoảng như để lại rung động ngọt ngào trong trái tim để rồi thao thức nhớ, khe khẽ yêu.

“Tình yêu luôn có quy luật riêng nhưng mà lí trí thì chẳng thể nào hiểu nổi”. Tình yêu lứa đôi mêng mang như biển cả, thiên nhiên và bí mật. Đấy là những chân lí xưa cũ nhưng mà người nào cũng biết. Đóng góp của Xuân Quỳnh là tạo ra ngôn ngữ rât riêng đượm đà nét duyên con gái về những điều xưa cũ đó. Không nghiêng về tư duy logic như ông hoàng thơ tình Xuân Diệu, nữ sĩ Xuân Quỳnh nói bằng ngôn ngữ của cảm xuac trái tim. Không giảng nghĩa rõ ràng chi tiết, Xuân Quỳnh chỉ khêu gợi để người đọc tự chiêm nghiệm suy ngẫm. Chính điều đấy hình thành sức hấp dẫ của Xuân Quỳnh.

Phân tích khổ thơ 3 và 4 bài thơ Sóng – Mẫu 9

Giả dụ Xuân Diệu được mệnh danh là “Ông hoàng thơ tình” thì Xuân Quỳnh lại được biết tới là nữ đế của tình yêu. Viết về đề tài tình yêu, Xuân Quỳnh đã để lại cho văn chương Việt Nam nhiều thi phẩm tuyệt vời. Nổi trội trong số đấy chẳng thể ko nhắc đến bài thơ “Sóng”. Trong tác phẩm, Xuân Quỳnh đã trình bày niềm khát khao của người thanh nữ muốn được yêu được mến thương, được sống trong 1 tình yêu hạnh phúc chung thủy. Vẻ đẹp này trình bày đặc thù rõ nét qua các khổ thơ số 3 và 4:

Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển mập
Từ nơi nào sóng lên?

Sóng tính từ lúc gió
Gió tính từ lúc đâu?
Em cũng ko biết nữa
Khi nào ta yêu nhau

Sóng vốn là hiện tượng thiên nhiên muôn đời nơi biển cả mênh mang. Khi nào vũ trụ còn còn đó thì lúc đó biển cả còn thì còn “muôn trùng sóng bể”, sóng vẫn sẽ còn vỗ. Bởi vậy, nó là biểu trưng cho nhựa sống vĩnh hằng, kỳ diệu, biểu trưng cho sự trường tồn bình ổn với thời kì. Xây dựng hình ảnh “sóng ngày xưa” và “ngày sau” cùng việc sử dụng tính từ cảm thán “ôi”, tình thái từ chỉ tình trạng “vẫn thế”, Xuân Quỳnh đã khôn khéo diễn đạt khát vọng hết sức xinh tươi.

Sóng ở đây chính là sóng lòng, luôn dạt dào, cuộn trào trong trái tim nhiệt liệt mến thương. Sóng chính là “em”. Biển lại giống như lồng ngực rộng lớn của trời đất. Sóng của biển vĩnh hằng cùng thiên nhiên cũng như tình yêu là chuyện muôn thuở của lứa đôi, là “khát vọng” muôn đời của trai gái từ xưa cho đến nay. Sự vĩnh hằng đấy được trình bày qua cả ko gian lẫn thời kì. Kế bên “ngày xưa” – “hiện tại”, Xuân Quỳnh khôn khéo đặt vào khổ thơ chữ “trẻ” ở cuối câu thơ, nhấn mạnh nhựa sống mãnh liệt của tình yêu. Nó mang lại cho tuổi xanh những nhịp đập rung động khác lạ, sự tươi sáng vui mừng, âm thầm viết lên những trang nhật ký thanh xuân xinh tươi, xúc động. Không chỉ riêng nhà thơ nhưng mà tất cả mọi người đều khao khát có 1 tình yêu vĩnh cửu.

Người đàn bà khao khát mến thương và trân trọng tình yêu nên luôn muốn khám phá những kín đáo của tình yêu:

“Trước muôn trùng sóng biển
Em nghĩ về anh em
Em nghĩ về biển mập
Diễn ra từ nào sóng lên?”

Những trằn trọc, suy nghĩ trong tâm não nữ nhà thơ được gợi ra qua hàng loạt câu thơ mở màn với cấu trúc “em nghĩ” đầy suy tư. Bà trằn trọc được trả lời những âu lo về tình yêu. “Em” tới đây đã ko còn ẩn mình trong sóng nữa nhưng mà hiện lên giữa mênh mang đất trời. Đối diện với ko gian rộng lớn, bất tận, thi sĩ bỗng nhớ tới cái mênh mông, vô bờ của tình yêu. Nhưng tình yêu đâu chỉ mênh mông, bất tận, trong lòng biển cả của nó còn chứa đựng bao bão tố, phong 3, bao bí mật khiến lòng người trằn trọc, băn khoăn, khao khát tìm kiếm đáp án. Có nhẽ chỉ lúc yêu con người ta mới khao khát được khám phá, được thấu hiểu cùng tận khởi thủy của tình yêu:

“Sóng tính từ lúc gió
Gió tính từ lúc đâu?
Em cũng ko biết nữa
Khi nào ta yêu nhau?”

Đáp án của câu hỏi: “Từ nơi nào sóng lên?” thật dễ ợt, chóng vánh: “Sóng tính từ lúc gió”. Nhưng đáp án của câu hỏi “Gió tính từ lúc đâu?” lại khiến người ta ngập dừng, ko vững chắc “ko biết nữa”. Những câu hỏi tu bắt đầu từ ẩn dưới chân sóng, lúc lại trào dâng lên đầu ngọn sóng diễn đạt tâm cảnh thi sĩ. Nương theo con sóng biển cả, bà mở màn hành trình kiếm tìm nơi khởi nguồn của tình yêu, cùng lúc lý giải thực chất của nó.

Cuối cùng đáp án thu được là: “Em cũng ko biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau”. Nó vừa giống như câu giải đáp đầy nhõng nhẽo, lại như lời thú nhận về kết quả khám phá khởi thủy tình yêu. Tình yêu vốn là tình cảm ẩn sâu trong trái tim con người, nó trừu tượng, diệu huyền chỉ có thể cảm nhận chứ chẳng thể giảng giải rõ khởi thủy, cũng không thể giảng nghĩa rõ ràng. Giống như ông hoàng thơ tình Xuân Diệu từng nói:

“Làm sao giảng nghĩa được tình yêu
Có khó gì đâu 1 buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu”

Có thể nói, chỉ 3 khổ thơ ngắn gọn nhưng mà Xuân Quỳnh đã khôn khéo sử dụng những giải pháp nghệ thuật cùng hình ảnh gợi cảm rực rỡ, đặc thù là nghệ thuật điệp từ, điệp cấu trúc cùng những câu hỏi tu từ dập dồn. Thể thơ 5 chữ với cách ngắt nhịp phóng túng tạo âm hưởng dào dạt. Nhịp thơ lúc nhẹ nhõm, lúc da diết. Để rồi qua việc tạo lập hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã trình bày được những chiêm nghiệm, suy ngẫm về khởi thủy của tình yêu cũng như khát vọng tình yêu chung thủy, tốt đẹp. Cùng lúc khắc họa vẻ đẹp dịu dàng, tinh tế, nét truyền thống pha lẫn vẻ tiên tiến của trái tim người đàn bà với tình yêu chân tình, thiết tha.

Với những trị giá đấy, 2 khổ thơ đã góp phần ko bé làm nên thành công của “Sóng” và khẳng định hồn thơ Xuân Quỳnh. Đọc thơ bà, chúng ta nghe đâu cũng cảm thu được rung động tình yêu và lắng tai được tiếng lòng mình. Vì thế, vượt qua sự bào mòn của thời kì, thơ Xuân Quỳnh vẫn có 1 nhựa sống mãnh liệt trong lòng bạn đọc.

.


#Văn #mẫu #lớp #Phân #tích #khổ #thơ #và #bài #thơ #Sóng #Dàn #mẫu

Vik News

Lê Thị Thanh Loan

Cô giáo Lê Thị Thanh Loan tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Hiện nay, Cô đang giảng dạy tại trường Trường tiểu học Văn Thủy

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button