Giáo Dục

Văn mẫu lớp 12: Phân tích nhân vật Tràng trong đoạn sáng hôm sau

Phân tích tâm trạng nhân vật Tràng sáng hôm sau đã bộc lộ những thay đổi trong suy nghĩ của Tràng. Sự thay đổi của nhân vật Tràng sau khi có vợ đã thể hiện sự trân trọng của nhà văn Kim Lân đối với nhân vật của mình cũng là sự trân trọng sâu sắc với những người dân nghèo khổ nhưng có khát khao sống mạnh mẽ.

phan tich trang

Bạn đang xem bài: Văn mẫu lớp 12: Phân tích nhân vật Tràng trong đoạn sáng hôm sau

Phân tích nhân vật Tràng sáng hôm sau là một trong các chủ đề hay, thường xuất hiện trong các bài kiểm tra, bài thi môn Ngữ văn. Tuy nhiên đây có thể là một chủ đề hơi khó đối với nhiều bạn học sinh. Chính vì vậy việc triển khai và sắp xếp nội dung ý tưởng phải thật hợp lý, mạch lạc. Nếu như các bạn lớp 12 vẫn còn đang băn khoăn chưa biết nên bắt đầu từ đâu, thì hãy tham khảo 8 bài văn phân tích nhân vật Tràng sáng hôm sau trong bài viết dưới đây nhé.

Dàn ý phân tích nhân vật Tràng trong đoạn sáng hôm sau

Dàn ý số 1

I. Mở bài

– Giới thiệu về nhà văn Kim Lân, cùng truyện ngắn “Vợ nhặt”.

– Giới thiệu khái quát về nhân vật Tràng trong truyện.

II. Thân bài

1. Giới thiệu đôi nét về Tràng

– Người dân xóm ngụ cư: cha mất sớm, sống cùng mẹ già trong căn nhà tồi tàn.

– Nghề nghiệp: kéo xe bò thuê.

– Ngoại hình: xấu xí, thô kệch, “hai con mắt nhỏ tí”, “hai bên quai hàm bạnh ra”, thân hình to lớn vập vạp, lại thô lỗ…

2. Tóm tắt lại truyện đến đoạn sáng hôm sau

Tràng – một người dân nghèo khổ sống cùng với mẹ già ở xóm ngụ cư. Một ngày nọ, trên đường kéo xe bò vào dốc tỉnh, Tràng tình cờ gặp gỡ với Thị. Chỉ với câu đùa và bốn bát bánh đúc, Thị đã đồng ý theo làm vợ và theo Tràng về nhà. Khi về đến nhà, bà mẹ của Tràng ban đầu rất ngạc nhiên, sau đó là đón nhận người đàn bà khốn khổ ấy làm con dâu với một sự thương cảm sâu sắc. Sáng hôm sau, Tràng bỗng cảm thấy mình đổi khác.

3. Phân tích Tràng trong đoạn sáng hôm sau

a. Buổi sáng tỉnh dậy

  • Tràng nhận thấy sự thay đổi kỳ lạ của ngôi nhà (sân vườn, ang nước, quần áo…).
  • Tràng nhận ra vai trò và vị trí của người đàn bà trong gia đình. Cũng thấy mình trưởng thành hơn.

b. Trong bữa cơm đầu tiên sau khi có vợ

  • Khi bà cụ Tứ bàn về tương lai, Tràng chỉ vâng rất ngoan ngoãn khiến cho không khí trong gia đình ấm áp, hòa hợp mà trước giờ chưa từng thấy.
  • Khi cầm bát cháo cám đưa lên miệng, hắn chun mặt lại vì chao chát nhưng khi nghe cô thị kể về việc người dân mạn trên đi phá kho thóc Nhật, trong ý nghĩ của hắn hiện lên hình ảnh người dân đi phá kho và lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới.

=> Người vợ đã khiến Tràng thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp.

III. Kết bài

Khái quát lại tâm trạng của nhân vật Tràng sau khi lấy vợ, khẳng định lại giá trị của tác phẩm Vợ nhặt.

Dàn ý số 2

1. Mở bài

Giới thiệu tác phẩm, nhân vật: Thông qua tình huống nhặt vợ lạ lùng, nhà văn Kim Lân đã bộc lộ được quan niệm nhân đạo sâu sắc khi phát hiện ra vẻ đẹp của con người ngay trong sự túng đói quay quắt, ám ảnh. Nhà văn đã chú ý miêu tả đến tả tâm trạng và những cảm nhận của Tràng trong buổi sáng hôm sau để thể hiện sức mạnh của tình thương, của hạnh phúc có thể làm đổi thay con người

2. Thân bài

– Trong buổi sáng hôm sau, anh Tràng đã có những cảm xúc mới mẻ cùng những cảm nhận lần đầu có

– Tràng nhận ra mọi thứ xung quanh cũng đổi khác “có cái gì vừa thay đổi mới lạ”

– Nhìn cảnh mẹ và vợ đang lúi húi dọn dẹp Tràng, hình ảnh bình dị nhưng lại khiến cho Tràng xúc động, Tràng thấy cuộc sống của mình thay đổi hẳn:

  • Những suy nghĩ của hắn cũng trở nên trưởng thành, chín chắn hơn.
  • Tràng cảm thấy mình phải có trách nhiệm với vợ con, với gia đình nhỏ của mình “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng.
  • Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”.

– Hình ảnh đoàn người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới hiện lên trong đầu Tràng đã gợi ra sự thay đổi trong nhận thức của nhân vật Tràng.

3. Kết bài

Ý nghĩa của những thay đổi trong suy nghĩ của Tràng: Sự thay đổi của nhân vật Tràng trong buổi sáng hôm sau vợ về nhà đã tiếp nối mạch diễn biến của câu chuyện, đồng thời thể hiện sự trân trọng của nhà văn Kim Lân đối với nhân vật của mình cũng là sự trân trọng sâu sắc với những người dân nghèo khổ nhưng có khát khao sống mạnh mẽ.

Phân tích Tràng sáng hôm sau siêu hay – Mẫu 1

Văn học lấy khởi đầu từ đâu nếu không phải những cảnh ngộ của đời sống, mảnh đời kia sẽ đứng trên trang sách bằng cách nào nếu không được nâng bởi chữ nghĩa, hòn lương tri nóng bóng trong họ cất cao lên nhờ đâu nếu không có đôi cánh của trái tim luôn quặn thắt vì đời ở người cầm bút, và cuối cùng chuyên cơ ngôn từ sẽ đáp xuống nơi nào nếu không phải mảnh đất mang tên triết lí nhân sinh. Thắc mắc trong tôi cứ ngày một nhiều mà chưa có lời giải đáp cho đến một ngày tôi lạc vào miền đất của môn nghệ thuật đầu tiên. Ở đó tôi bắt gặp một anh nông dân nghèo khổ nhưng thắm thiết tình người, dám vượt dậy từ tăm tối đói khát để mơ ước về một mái ấm gia đình. Nhìn kĩ mới biết ấy là anh cu Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân, nhân vật đã có những diễn biến tâm lí đầy xúc động vào buổi sáng đầu tiên khi có vợ. Từ trang tâm trạng của anh du khách văn chương ngạc nhiên trước những đổi thay đáng ghi nhận của nhân vật ở phần cuối tác phẩm.

Là một cây bút truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại, Kim Lân gây ấn tượng với người đọc bởi dấu ấn riêng biệt trong những thú “phong lưu đồng ruộng”. Tìm về trang viết Kim Lân, độc giả dễ dàng bắt gặp cái thế giới của những người thường dân nghèo hèn, khổ đau trong xã hội cũ. Tuy nhiên văn nhân cho rằng: họ là những con người chịu nhiều thiệt thòi. Nên ông muốn viết để đòi quyền sống và quyền tự do cho họ. Nhân vật trong sáng tác Kim Lân dù trong bất cứ hoàn cảnh nào vẫn không đánh mất đi bản chất tốt đẹp của mình, vẫn thật thà, chất phác, vẫn thông minh, hóm hỉnh và đặc biệt vẫn luôn hưởng về sự sống, hướng về tương lai. So với những tác giả văn học đương thời như Tô Hoài hay Nguyên Hồng, “cha đẻ của đồng ruộng” sáng tác không nhiều. Ông là minh chứng cho mẫu nhà văn “quý hồ tinh bất quý hồ đa”, mang trong mình sự kĩ lưỡng, cẩn trọng và nghiêm túc khi làm nghề.

Ấy vậy mà để điểm lại bốn tác phẩm văn xuôi xếp vào loại gần như “thần bút”, người ta không thể không kể tới kiệt tác “Vợ nhặt” của Kim Lân. Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” viết ngay sau Cách mạng tháng Tám. Nhưng do thất lạc bản thảo, tới năm 1954, Kim Lân mới dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết “Vợ nhặt”. Tác phẩm vì thế không chỉ là kết quả của quá trình suy ngẫm, gọt giũa cả về nội dung và nghệ thuật mà còn mang âm hưởng lạc quan của thời đại mới. Thiên truyện miêu tả sức sống kì diệu, bản chất tốt đẹp của con người ngay giữa những tháng ngày tăm tối nhất của nạn đói năm 1945.

Nếu người thầy của văn nhân là Nam Cao để cho Chí Phèo bước vào tác phẩm cùng tiếng chửi đời đầy phẫn uất trong men say thì Kim Lân đã tạo những ấn tượng đầu tiên về nhân vật Tràng qua bức chân dung sơ sài của tạo hóa với “cái lưng to như lưng gấu hai con mắt nhỏ tý, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ gì vừa lý thú, vừa dữ tợn”. Hơn nữa y còn được giới thiệu là dân ngụ cư – thứ dân vốn bị coi khinh và chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội cũ. Cuộc sống bấp bênh, long đong trong đói nghèo. Cả gia tài của hai mẹ con Tràng chỉ là một ngôi nhà vắng teo đứng “rúm ró trên mảnh vườn xung quanh lổn nhổn những búi cỏ dại”. Thật chẳng sai khi nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn nhận xét về nghệ thuật tạo dựng nhân vật trong sáng tác văn nhân rằng: “Kim Lân là nhà văn của lớp người đầu thừa đuôi thẹo”. Nhưng dường như “những mẫu người đầu thừa đuôi thẹo ấy đã gửi một đại diện của họ vào văn học”. Việc văn nhân đặt nhân vật vào giữa những tháng ngày tăm tối nhất của nạn đói, thời điểm người ta lo chắt chiu từng hạt gạo, để bẩy lên tấm lòng sáng rực giữa trời đen của Tràng khi hào phóng chi tiền mời người đàn bà xa lạ “một chặp bốn bát bánh đúc”. Tấm lòng nhân hậu của y mở rộng để sẵn sàng cưu mang những mảnh đời rách nát hơn cả mình. Thậm chí ngòi bút Kim Lân xoáy sâu vào lòng người đọc ấn tượng về niềm khao khát hạnh phúc mãnh liệt trong anh. Một người đàn ông can đảm gạt bỏ nỗi ám ảnh về miếng cơm, manh áo để tiến tới hạnh phúc thiêng liêng nhất ở tuổi trưởng thành. Sự kiện lấy vợ đã tạo ra bước ngoặt lớn trong cuộc đời anh, mang đến trong anh những cảm xúc rất người. Và sau tất cả người ta nhận thấy sự chuyển biến lớn lao trong tâm trạng Tràng vào buổi sáng hôm sau. Chợt nhớ thuở trẻ thơ ta bất ngờ về cái vươn vai mạnh mẽ thành hình hài khổng lồ của Gióng thì khi trưởng thành ta lại thấy xúc động về cuộc cách mạng tâm hồn trong một con người. Người đàn ông mấy ngày trước vẫn còn vui đùa với trẻ con nay đã mang trong mình những suy nghĩ chín chắn. Phải chăng cái quyết định gắn hai mảnh đời khốn khó lại với nhau của Kim Lân không chỉ đem tới những thay đổi về vị trí trong gia đình mà còn mang tới những thay đổi về ý thức bổn phận, trách nhiệm trong anh.

Nhà văn Nguyễn Khải đọc chữ nghĩa Kim Lân rồi cất lời tán thưởng gọi ông là “thần viết” một phần bởi bút lực Kim Lân “sâu lắng, cẩn trọng, tỉ mẩn, luôn luôn cố gắng để đi tới tận cùng những nỗi niềm, tâm trạng của từng con người, từng số phận riêng để từ đó góp một tiếng nói riêng vào trang sử chung về tâm tư, tình cảm của con người Việt Nam, của văn học Việt Nam hiện đại”. Diễn biến tâm trạng anh cu Tràng trong buổi sáng đầu tiên khi có vợ là một sự cẩn trọng như thế trong ngòi bút Kim Lân. Trang tâm trạng của Tràng vào buổi sáng hôm sau biến ảo diệu kì, phong phú những cảm xúc. Trên hành trình của sự đổi thay ấy, người ta thấy điểm khởi đầu tâm trạng trong anh rơi vào nốt ngân của niềm hạnh phúc. Nhà ngôn từ đã thật tỉ mĩ cắt nghĩa cho độc giả thấy niềm hạnh phúc thật đáng yêu ở chàng trai mới cưới – một sự sung sướng đến ngỡ ngàng, không dám tin việc mình có vợ là thật. Trở dậy sau giấc ngủ dài, Tràng thấy thật khoan khoái, dễ chịu: “Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Lạ lùng thay câu văn tự sự lại mang đậm cách gieo vần của thơ ca. Một loạt vần “ơ” bắt với nhau trong dòng cảm xúc rất thơ, rất người của Tràng. Những tưởng sự “êm ái” kia là do sự nghỉ ngơi mang đến, sự “lửng lơ” kia được tạo ra do chiêm bao từ cơn mê. Nhưng không đó là chất men say của tình yêu khiến anh lâng lâng, bồng bềnh trong hạnh phúc. Một cảm xúc thật khác lạ chưa từng xuất hiện trước đây trong y “nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng”. Chất điện của tình yêu dường như khiến người ta rơi vào những thứ cảm xúc chẳng thể cắt nghĩa, nhưng không thể không thôi khao khát. Cảm xúc ấy phải chăng giống như Xuân Diệu từng bộc bạch:

“Từ lúc yêu nhau, hoa nở mãi
Trong vườn thơm ngát của hồn tôi”

Tràng thấy mình hạnh phúc như đang ở trong mơ và không thể tin rằng nó có thực: “Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải”. Ngẫm thử mới thấy việc Tràng có vợ đâu khác gì một giấc mơ. Câu chuyện nên vợ nên chồng của thị với Tràng tưởng đùa mà hóa thật, chuyện thật mà lại như đùa. Bởi xưa người ta muốn lấy vợ phải cần sính lễ và thủ tục cưới xin. Đến trong cảnh đói kém, nghèo nàn Dần được người ta rước về cũng có lấy hai mươi đồng bạc cưới và bữa cơm của hai bên gia đình. Vậy mà Tràng lại lấy vợ chỉ bởi một câu hò vu vơ, một lời tầm phơ tầm pháo và bốn bát bánh đúc. Chuyện trọng đại của đời người nhưng diễn ra thật chóng vánh. Hai chữ “ngỡ ngàng” vì thế là một phát hiện rất tinh tế của “thần bút” Kim Lân. Thậm chí diễn đạt “ngỡ ngàng” ấy còn hoàn toàn hợp lí bởi một kẻ ngờ nghệch, “hơi dở” tưởng chừng “ế” nhưng lại có một người đàn bà chịu theo không về. Một dòng tâm trạng rất thật của Tràng, nhưng mang sức tố cáo mãnh mẽ hướng vào xã hội thực dân. Chính chúng đã gieo bao sự khổ cực, đói kém, bao gánh nặng của cơm áo khiến người nông dân không dám nghĩ tới hôn nhân, không dám tin vào hạnh phúc, dù hạnh phúc đang ở trong tầm tay.

Có được một vị trí mới trong gia đình giúp cho Tràng quan tâm hơn ngôi nhà mình. Y bỗng chợt nhận ra những thay đổi “mới mẻ, khác lạ” trong không gian sống của mình. Giống như Chí thấy cuộc đời ngoài kia tươi vui với “mái chèo đuổi cá”, với “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá” sau bát cháo giàu tình thương của thị Nở, Tràng để ý tới “nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang… đã kín nước. Đống rác mùn… đã hót sạch”. Nói về sự thay đổi ấy trong một lần trả lời phỏng vấn, Kim Lân chia sẻ “Cuộc sống thay đổi thực dù không nhiều với gia đình ấy”. Nhưng “một nếp sống khác bắt đầu xuất hiện”. Đó có phải chính là bàn tay săn sóc của mẹ và vợ y nên nhà cửa trở nên gọn gàng, ngăn nắp, không còn cần Tràng phải ngượng ngùng chữa cháy “Không có người đàn bà, nhà cửa thế đấy!”. Cảnh vật thật ra vẫn vậy chỉ là ngày thường Tràng chẳng bao giờ để ý. Sáng hôm nay nhờ sự chuyển biến lớn lao trong nhận thức, anh cu Tràng không còn đó những vô tâm, hời hợt nữa. Đôi mắt anh giờ đang quan sát tỉ mẩn về thế giới xung quanh. Đó là sự thay đổi vượt bậc về cái nhìn của người đàn ông ấy.

Nếu xem “văn chương là lịch sử tâm trạng con người” thì cây bút Kim Lân đích thực sâu sắc trong muôn vàn “ý nghĩ” ấy. Nhà văn nhanh chóng để ống kính mình bắt kịp từng đổi thay của nhân vật trong cây đàn muôn điệu. Không chỉ để nhân vật của mình có những đổi mới về cách nhìn mà Kim Lân còn đem chất xúc tác “mới mẻ” về nhận thức trong chính nhân vật, làm lóe lên những dòng cảm xúc hạnh phúc trong anh. “Nếp sống” mới xuất hiện khiến Tràng cảm nhận được không khí đầm ấm, vui vẻ của gia đình mà “thấm thía cảm động”. Người đem tới làn gió ấy chính là thị. Cô vợ đảm đang “quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất”. “Cái âm thanh ấy, ngày thường Tràng cũng nghe nhưng chưa bao giờ gợi cảm như thế. Người vợ mới muốn quét mạnh tay để tạo ra những âm thanh rộn rã khẳng định sự có mặt của mình trong ngôi nhà.” Và người mẹ của hắn đang “lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở”. Tất cả dường như muốn sửa sang cho sáng sủa căn nhà để mong chờ một tương lai tươi sáng hơn. Một khung cảnh bình dị nhưng khiến Tràng “thấm thía cảm động”. Phải chăng phải sống quá lâu trong sự trống vắng, trong toan tính về miếng ăn, trong cơ cực, tủi nhục khiến Tràng chưa bao giờ nghĩ về những hạnh phúc giản đơn như vậy. Nay có được hắn càng thấy nâng niu, trân trong trước dòng ánh sáng ấm áp trong cuộc đời.

Hạnh phúc tưởng chừng nhỏ bé kia nhưng lại mang đôi cánh cất cao cái hồn con người. Trên muôn nẻo tâm trạng, nhà cầm bút dõi theo từng bước chân nhân vật để rồi ông nhận thấy: anh cu Tràng từ ngõ hẻm trong thờ ơ, coi ngôi nhà như một chỗ ngủ tạm, trú chân nay bỗng bước lên con đường mênh mông của niềm “thương yêu gắn bó” với tổ ấm nhỏ của mình. Miêu tả ấn tượng trong Tràng về trạng thái tâm hồn ấy Kim Lân dùng hai chữ “lạ lùng”. Hạnh phúc vốn là niềm mong ước, là trạng thái thường trực trong con người đặc biệt là hạnh phúc gia đình thân thuộc. Nhưng Tràng thấy “lạ lùng” bởi đó là thứ cảm giác chưa từng có. Thật tội nghiệp nhưng cũng thật đáng quý. Tội nghiệp cho kiếp người bị dìm trong bể đói, đáng quý trước biến đổi lớn lao trong con người Tràng. Giờ đây, y nhận thức được mình “đã có một gia đình” và “hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy”. Không phải chỉ “có vợ”, mà lần này, hắn có hẳn một “gia đình”. Chính người đàn bà theo không kia lại là sợi dây kết nối các thành viên trong gia đình và thị là một hạt nhân không thể thiếu để làm vẹn tròn hai tiếng thiêng liêng, gần gũi ấy. Nói về vai trò của người vợ trong gia đình Andre Maurois khẳng định: “Không có gia đình, người đàn ông trở nên cô độc với toàn thế giới, run rẩy trong giá lạnh”. “Tôi sẵn sàng đánh đổi toàn bộ sự nghiệp nếu biết ở đâu đó trong ngôi nhà kia, có một người vợ luôn chờ tôi về ăn bữa tối”. Thế mới thấy tâm hồn Tràng đã nở hoa như thế nào từ khi gặp thị. Hắn biết chỉ nay mai thôi thị sẽ cùng hắn thổi vào thế giới kia đầy ắp những tiếng cười. Con cái của họ sẽ ra đời, không chỉ là người ruột rà nối dõi của gia đình mà sẽ là niềm vui tuổi già của bà mẹ già và là động lực sống lớn lao cho vợ chồng Tràng. Họ sẽ dựng xây “tổ ấm che mưa che nắng” trong ngôi nhà ấy. Ngôi nhà giờ không phải là nơi chỉ có hai mẹ con hắn với cuộc sống mưu sinh sáng đến tối không hề gặp mặt. Mà bây nó là nơi quây quần, nơi nương tựa và là nơi để trở về sau bao bão táp, phong ba của cuộc đời. Ngôi nhà hắn đã sống bao ngày, hôm nay khi nhìn nó qua lăng kính tình yêu Tràng thấy thật thiêng liêng. Phải chăng như Chế Lan Viên từng viết “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”. Tại mảnh đất mẹ con anh chọn để tha hương, Tràng cùng mẹ và người đàn bà sẽ có một khởi đầu mới. Niềm ao ước về cuộc sống tốt đẹp hơn khiến cho y có “một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”.

George Sand từng tâm sự: “Thiên hướng của người nghệ sĩ là đưa ánh sáng vào trái tim con người”. Nhận thức được “văn chương là một thứ đạo làm người” Kim Lân đã chiếu nguồn “ánh sáng” rọi vào những kiếp nghiệt ngã trong tác phẩm của mình. Dù đặt “nhân vật kề nanh vuốt của cái chết”, nhà văn vẫn tỉnh táo để kéo con người khỏi sa vào vũng lầy nhơ nhuốc. Ông vẫn miệt mài vun xới vườn ươm tâm hồn nhân vật. Anh cu Tràng ngờ nghệch trong buổi sáng hôm sau bỗng vươn vai trở thành người đàn ông có trách nhiệm với gia đình. Anh ý thức được những bổn phận và nghĩa vụ của người trụ cột gia đình. Là một người con, một người chồng và sau này sẽ còn là một người cha, Tràng biết “hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”. “Hắn thấy hắn nên người”. Hai chữ “nên người” đánh dấu cả sự trưởng thành trong suy nghĩ của Tràng. Nếu trước đây Tràng chỉ là một anh con trai to về thể xác, bé về tâm hồn thì sau sự kiến lấy vợ Tràng không chỉ có vẻ chững chạc của người đàn ông mà còn có cái chín chắn trong suy nghĩ. Anh nhận thức được trọng trách mình phải gánh vác, ý thức được mình sẽ cần phải làm gì. Và chắc chắn Tràng hơn ai hết sẽ trăn trở xem làm sao để mang tới sự ổn định, no ấm cho gia đình mình. Ý nghĩ ấy ngay lập tức đã được cụ thể hóa thành hành động cụ thể “hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa căn nhà”. Đàn ông nói là làm. Ấy mấy là bậc nam nhân. Chỉ hai chữ “xăm xăm” thôi nhưng thợ chữ tạc vào bao trách nhiệm, bao yêu thương y dành cho gia đình. Sự sốt sắng, sự cố gắng và phấn đấu ấy rồi mai này sẽ được đền đáp xứng đáng. Vậy là Tràng đã trưởng thành, trở thành người đàn ông chèo chống gia đình, có ý thức, trách nhiệm, luôn muốn làm tròn bổn phận của mình.

Trong cuốn “Từ điển văn học” tác giả Trần Hữu Tá có khái quát về truyện ngắn sau Cách mạng của Kim Lân: ông “vẫn tiếp tục viết về làng quê Việt Nam… về những cảnh tội nghiệp, cuộc sống khốn khó đến cùng cực của người nông dân dưới chế độ cũ và sự đổi đời của họ nhờ Cách mạng”. Tại đoạn kết truyện, văn nhân ghi nhận cảm xúc “tiếc rẻ vẩn vơ” của Tràng khi nghe vợ kể chuyện người ta đi phá kho thóc Nhật cùng sự vận động tích cực của niềm tin về một ngày mai tươi sáng trong anh. Khi tiếng trống thúc thuế ngoài đình vang lên dồn dập, Tràng “thần mặt ra nghĩ ngợi”, đây là điều hiếm có đối với anh xưa nay. Trong ý nghĩ của Tràng vụt hiện ra cảnh “những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp” để cướp kho thóc Nhật và “đằng trước là lá cờ đỏ to lắm”. Tràng nhớ tới cảnh ấy mà “lòng ân hận, tiếc rẻ vẩn vơ”. Tâm trạng anh bống chốc trở nên xao động. “Cái ao đời phẳng lặng” nơi anh như vừa được ném vào viên sỏi khiến nó sóng sánh cực mạnh, soi xuống thấu đáy, lộ ra khát khao mãnh liệt đang trào dâng trong Tràng. “Đám người đói và lá cờ đỏ” cứ đeo bám dai dẳng trong óc anh. Rồi đây anh sẽ làm gì với gia đình nhỏ bé mà anh vừa khởi sự? Ba con người ấy sẽ tồn tại như thế nào? Họ sẽ cùng nhau vượt qua dịch đói ra sao?… Tác giả không đưa ra bất kì một giải pháp nào mà để nhân vật tự lo liệu lấy. Đồng thời ông cũng mở ra những liên tưởng kì thú để người đọc tự lấp đầy trang trắng. Nhìn về chiều biến thiên tích cực phải chăng Tràng đã thức tỉnh, và ngộ ra chân giá trị của sự sống: giữa khoảng cách cận kề của cái đói và cái chết, giữa mơ hồ, mong manh của hạnh phúc, người ta chỉ có thể nắm giữ được tình người và mạng sống khi tìm ra chân lí của cuộc đời. Và ánh sáng ấy chỉ có ở con đường Cách mạng, lối thoát ấy chỉ hiện ra ở cánh cửa của Đảng. Và một ngày nào đó chính Tràng sẽ hòa mình vào đám người đang đói, được giác ngộ đi theo Việt Minh để tìm về tương lai tươi sáng hơn.

“Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và cùng với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống là chất liệu của văn học”. Nhờ có “lớp vỏ” hình thức mà văn chương của Kim Lân nói chung và bức tranh tâm trạng anh cu Tràng nói riêng cứ tự nhiên như thế len lỏi vào tâm hồn con người. Trước tiên phải kể đến biệt tài xây dựng tình huống truyện độc đáo của Kim Lân. Văn nhân đặt nhân vật của mình vào tình huống nhặt vợ éo le trong đói nghèo để làm “đòn bẩy” nâng khát khao hạnh phúc, sự chuyển biến trong ý thức, hành động của anh cu Tràng nhằm hướng về ngày mai tươi sáng. Đồng thời nhờ duyên nợ với thôn quê và những con người lam lũ đói nghèo đã giúp Kim Lân khắc họa thành công tâm trạng anh cu Tràng trong buổi sáng hôm sau với ngôn ngữ văn chương “ròng ròng sự sống”, mang đậm hơi thở làng quê nhưng lại chính xác trong từng vị trí. Người đọc như cùng hồi sinh với nhân vật Tràng trong buổi sáng hôm sau qua giọng đệm “trầm sáng như giọng cổ tích” với nét giọng chủ đạo là yêu thương, ngợi ca để cất cao niềm khát vọng trong người nông dân nghèo khổ. Đặc biệt “thần bút” tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc xây dựng nhân vật của mình “chính mình là người khác, mình hóa thân vào người khác” để lách sâu vào dòng suy nghĩ lâng lâng vì hạnh phúc cùng những biến đổi trong hành động của nhân vật. Nhờ đó những nốt ngân trong tâm trạng Tràng cứ rung lên từng âm rõ rệt xoáy sâu vào lòng người vùng trời sự sống.

Trên chặng đường theo chân Tràng, tại điểm dừng trong buổi sáng hôm sau, người đọc xúc động vì những cảm xúc rất người ở y. Từ trang tâm trạng của Tràng trong buổi sáng đầu tiên có vợ, người quan sát thấy rõ sự thay đổi ngoạn mục ở nhân vật này. Nơi “ngưỡng cửa của khốn khó”, Tràng đã “chứng tỏ được số phận và tích cách của mình” – một con người dũng cảm trong khó khăn. Anh từ một “đứa trẻ” vô tâm trở thành một người đàn ông trưởng thành trong suy nghĩ. Từ một con người “hơi dở” chỉ biết cười ngặt nghẽo trước bọn trẻ trong xóm nhỏ nay biết mở rộng trái tim để cảm thông và thương xót cho người khác. Vốn là người con ngờ nghệch khi nô đùa với lũ trẻ, chẳng mặc đến cửa nhà nay Tràng đã biết quan tâm và có trách nhiệm với gia đình. Không chỉ vậy anh còn mang bước chuyển đổi lớn lao của thời đại mới – thời đại cách mạng. Tràng mở đầu truyện ngắn “Vợ nhặt” bằng dáng đi “ngật ngưỡng” trên con đường về xóm chợ xác xơ của những kiếp ngụ cư tội nghiệp trong buổi chiều chạng vạng và cũng kết thúc thiên truyện ấy vào buổi sớm mai với hình ảnh mới lạ về đoàn người đói vùng lên dưới lá cờ đỏ tung bay phấp phới. Kim Lân đã biến Tràng từ một người đi bên lề của cuộc đấu tranh đến những bước chân chập chững nghĩ suy về con đường cách mạng và những hình dung đẹp đẽ về một cuộc sống mới ổn định, no ấm. Đồng thời ngòi bút Kim Lân cũng “đi tới tận cùng những nỗi niềm tâm trạng” để cắt nghĩa sự thay đổi đáng ngợi ca này của nhân vật. Nhìn lại hành trình “nhặt vợ” của Tràng và đặc biệt là những suy nghĩ của anh trong buổi sáng hôm sau người ta thầm tán thưởng liều thuốc kì diệu của tình yêu. Chính tổ ấm hạnh phúc đã tác động tới trái tim vốn chai sạn ở Tràng, đem tới niềm tin mới cho người đàn ông đang đứng trên bờ vực của cái chết. Từ sự “lớn dậy” ấy của anh, ngòi bút nhân đạo Kim Lân muốn dành những lời có cánh cho người lao động nghèo: “Trong sự túng đói quay quắt, trong bất cứ hoàn cảnh khốn khổ nào, người nông dân ngụ cư vẫn khao khát vươn lên trên cái chết, cái thảm đạm, để mà vui, mà hi vọng… Khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống. Dù ở trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hy vọng ở tương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người”.

Dòng diễn biến tâm trạng của Tràng trong buổi sáng hôm sau là cả quá trình Kim Lân cất công vực dậy cái đẹp từ chốn cùng tăm tối. Trong bức tranh tâm trạng ấy độc giả không chỉ nhìn thấy cái tài năng thần tình của người cầm bút mà còn thấy trân quý biết bao tấm lòng mang nặng với đất với người nơi nông thôn nghèo khó. Cuộc sống có nhiều nỗi niềm nặng nề của cảnh con riêng, phận ngụ cư giúp trái tim nhân đạo Kim Lân thấu hiểu và đồng cảm hơn ai hết tình cảnh khốn khổ, đói nghèo của đồng bào ta, khiến văn nhân quặn thắt khi họ chẳng dám tin hạnh phúc đang hiện hữu quanh mình. Và cũng chính vì thế ông đã dốc sức để cắt nghĩa những nỗi niềm trong họ để rồi vui mừng reo lên khi nhìn thấy trong hành trình cảm xúc của anh cu Tràng vào buổi sáng hôm sau một vùng sáng đẹp – đại diện cho hình tượng người nông dân chất phác, thật thà dù có kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn thèm khát sự sống, vẫn hướng về tương lai. Nhà văn thể hiện niềm tin yêu vào những phẩm chất tốt đẹp của con người. Đồng thời qua những suy nghĩ của Tràng ở cuối truyện, văn nhân muốn hướng con người tới ánh sáng đổi đời, tới con đường Cách mạng tuy khí thế của nó vẫn còn hơi yếu ớt. Nhưng đó cũng là điều đáng trân trọng ở Kim Lân khi ông không để nhân vật của mình chết trên ngưỡng cửa của sự trở về như trong cái nhìn bế tắc của Nam Cao. Và qua những thay đổi rất người ở Tràng, tôi cũng muốn mượn mấy câu văn của Nguyễn Khải để nói tới bức thông điệp mà Kim Lân gửi gắm: “Sự sống nảy sinh từ cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy”.

Kim Lân bảo: “Tôi đến với văn học, ban đầu là từ sự say mê, ham thích. Những truyện ngắn đầu tay của tôi như “Đứa con người vợ lẽ”, “Người kép già”, “Cô Vịa” là những truyện ngắn viết về đề tài xã hội. Đó là những câu chuyện về bản thân tôi, tâm tư và số phận của tôi cũng như những người gần gũi trong làng xóm của tôi”. Sự say mê với thế giới đậm mùi khói bếp và rơm rạ quanh mình khiến cho những áng văn Kim Lân sao chân thực, gần gũi mà xúc động đến lạ kì. Từng trang sách đong đầy bóng dáng đồng bằng Bắc Bộ nơi ông không chỉ có cái nhìn thấu đáo về hiện thực mà còn mang tấm lòng của một nhà văn suốt đời đi tìm cái cao thượng trong mỗi một con người. Những nghiêm túc và cẩn trọng của Kim Lân trong nghề khiến lớp bụi thời gian chẳng thể tìm được khe hở nào để lọt qua, để xóa nhòa. Ngược lại những kiệt tác của văn nhân cứ ngày một trong, một sáng và đẹp hơn dưới tia nắng cuộc đời.

Phân tích Tràng sáng hôm sau – Mẫu 2

Kim Lân là một cây bút chuyên viết truyện ngắn với đề tài quen thuộc là hình ảnh nông thôn và người nông dân với những thú vui đồng quê ở đồng bằng Bắc Bộ. Tuy số lượng tác phẩm truyện ngắn của ông không nhiều nhưng nó đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc. Khác với Tô Hoài – Kim Lân không khai thác đời sống của người dân nơi rẻo cao Tây Bắc mà lại lấn sâu vào cuộc sống của người dân quê – những con người gắn bó thiết tha với quê hương và cách mạng. Tiêu biểu là truyện ngắn “Vợ nhặt”, tác phẩm vừa là bức tranh phản ánh chân thực cuộc sống nghèo khổ, đói kém của người dân làng quê Việt Nam trong nạn đói 1945. Vẻ đẹp ấy được hiện lên một cách trọn vẹn qua việc miêu tả nhân vật Tràng trong buổi sáng hôm sau khi đã có vợ.

“Vợ nhặt” được lấy bối cảnh từ nạn đói khủng khiếp 1945, hơn hai triệu người chết đói. Nhưng kì lạ thay, trong sự đói khát cùng cực ấy, cận kề bên cái chết, những người dân Việt Nam luôn hướng về sự sống, ánh sáng, hạnh phúc, tương lai. Đó là chất “mười” kì diệu, là khát vọng sống mạnh mẽ của con người Việt Nam. Đã khơi nguồn cảm hứng cho Kim Lân sáng tác.

Truyện ngắn “Vợ nhặt xoay quanh một sự kiện đặc biệt quan trọng liên quan đến nhân vật Tràng – người nông dân ngụ cư nghèo bỗng dưng có vợ giữa nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà là vợ theo không. Từ câu chuyện này, người đọc đã có những suy nghĩ về thái độ sống của con người trong nạn đói.

Tràng là một anh chàng kéo xe bò thuê, công việc bấp bênh, cuộc sống cực khổ. Anh là một minh chứng điển hình của nạn đói khủng khiếp năm 1945. Những lớp người đang đứng ở ngưỡng cửa của cái đói. Trong thời buổi khốn khó ấy Tràng chả dám nghĩ tới việc sẽ cưới được vợ. Ấy vậy mà cái duyên nó “ vồ “ lấy cái số anh chàng lại “ nhặt “ được vợ. Nghe tưởng chừng vô lí bởi lẽ đời có ai lại nhặt được vợ bao giờ cơ chứ? Chắc hẳn người đàn bà mà Tràng lấy làm vợ ấy cũng đã ở cái ngưỡng đường cùng, bấu víu vào bất cứ thứ gì có thể bấu víu được . Tràng không nhận thức được hoàn cảnh của mình , anh ta chỉ chậc lưỡi theo đúng cách của người hay “ngẩng mặt lên trời cười hềnh hệch”. Anh ta chỉ cảm nhận được sự thay đổi, còn ý nghĩa của nó như thế nào thì anh ta chưa thể hiểu.

Cũng thức dậy như mọi ngày, nhưng sao hôm nay Tràng thấy lạ lắm. Buổi sáng đầu tiên khi có vợ. Tràng trở thành một người hoàn toàn khác hẳn, niềm vui sướng, hạnh phúc tràn ngập trong lòng hắn. Tràng ngạc nhiên trước cảnh tượng nhà cửa: nhìn vợ với mẹ đang quét dọn sân vườn. Một ý nghĩ hạnh phúc đang hiện hữu trong cuộc sống của mình. Lần đầu tiên Tràng được sống trong cảm giác rất người. Tràng cảm thấy trong người êm ái, lửng lơ như vừa đi ra trong giấc mơ. Hạnh phúc đã khiến Tràng trở nên khác lạ hẳn “ bây giờ hắn mới thấy hắn nên người “ ,” Hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này “. Cái gốc của sự thay đổi ấy chính là gia đình, là niềm khát khao hạnh phúc về một mái ấm gia đình ngay cả khi Tràng đang đứng bên bờ vực của cái đói, sự chết chóc.

Song, chi tiết đắt giá nhất của Kim Lân không phải ở đó mà có lẽ là ở câu văn “Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì đó để tu sửa lại căn nhà”. Hai chữ “xăm xăm” gợi lên bao nhiêu là niềm hớn hở, háo hức trong tâm hồn và cả trong bước chân của Tràng khi tìm đến hạnh phúc của đời mình. Hành động “xăm xăm” này là một sự thay đổi không chỉ ở dáng đi mà còn thay đổi cả tính cách ở Tràng, từ vô lo, vô nghĩ sang sống có trách nhiệm với gia đình mình. Đó là một đột biến quan trọng, một bước ngoặt thay đổi cả số phận lẫn tình cảm của Tràng . Khiến Tràng trở nên trưởng thành, chín chắn hơn, có trách nhiệm với tổ ấm của chính mình. Đó là điều thật bình dị đối với mỗi con người nhưng đối với Tràng lại có ý nghĩa vô cùng lớn lao trong cuộc đời.

Bữa cơm cưới đầu tiên trông thật thảm hại, chỉ có một cái mẹt rách, một lùm rau chuối thái rối, một đĩa muối và nồi cháo loãng, mỗi người chỉ được hai lưng. Và khi miếng cháo cám đưa lên miệng đắng chát, nghẹn bứ trong cổ họng cùng với âm thanh tiếng trống thúc thuế dồn dập tức là lúc cuộc sống bị dồn đẩy đến miệng vực của cái đói, cái chết. Trước lời giải thích của vợ với mẹ: “trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật chia cho người đói nữa đấy”, Tràng thần mặt ra nghĩ ngợi rồi vỡ lẽ khi nhớ lại hình ảnh đám người đói đi trên con đê hóa ra là Việt Minh. Cùng lúc đó trong óc Tràng hiện lên hình ảnh “lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới”. Sự có mặt của chi tiết nghệ thuật này khiến cho câu chuyện có một cái kết mở, nhờ thế thiên truyện đóng lại nhưng số phận của các nhân vật vẫn tiếp tục được vận động theo hướng lạc quan đi lên chứ không bế tắc như anh Pha, chị Dậu, Chí Phèo,…

Trước những tình cảnh éo le, cảm động ấy thì “Vợ nhặt” như một khúc nhạc đầy bi thương và xót xa trước những gì lẽ ra là cao quý lắm đối với con người. Từ tình huống truyện ấy mà tác phẩm này cùng một lúc thể hiện được những giá trị đặc sắc. Qua tác phẩm, Kim Lân đã gửi gắm những giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, mới mẻ. Nghệ thuật đặt nhân vật trong tình huống độc đáo, éo le, cảm động cùng với phẩm chất, tính cách của nhân vật được thể hiện qua lời ăn, tiếng nói hàng ngày.

Qua truyện ngắn “Vợ nhặt” ta thấy được cách xây dựng hình tượng nhân vật của nhà văn Kim Lân hết sức đặc biệt, mỗi nhân vật đều bộc lộ được những tính cách, phẩm chất khác nhau đại diện cho lớp người trong xã hội cũ và Tràng là một trong những nhân vật đó. Tác phẩm đã thành công khi miêu tả diễn biến tâm trạng cũng như lời nói, tính cách của Tràng để “Vợ nhặt” mang một tầm cao mới và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc đến sau này.

Phân tích nhân vật Tràng sáng hôm sau – Mẫu 3

Kho tàng văn học Việt Nam đã ghi dấu ấn của bao nhà văn, nhà thơ. Một trong số đó phải nhắc đến nhà văn Kim Lân. Với đề tài người nông dân, ông đã sáng tác ra nhiều tác phẩm gây được tiếng vang lớn. Một trong số đó phải kể đến truyện ngắn Vợ nhặt và nhân vật Tràng. Hình ảnh của Tràng được khắc họa rõ nét nhất khi Tràng lấy cô thị về làm vợ.

Tràng là một gã trai nghèo khổ, dân cư ngụ, làm nghề đẩy xe bò thuê để nuôi thân và nuôi mẹ già. Chính vì thế, anh bị mọi người coi khinh, chẳng mấy ai thèm nói chuyện, trừ lũ trẻ hay chọc ghẹo khi anh ta đi làm về. Anh có ngoại hình xấu xí, thô kệch, hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lý thú vừa dữ tợn… Đầu cạo trọc nhẵn, cái lưng to rộng như lưng gấu, ngay cả cái cười cũng lạ, cứ phải ngửa mặt lên cười hềnh hệch.

Tuy nhiên, anh chàng lại là người có tấm lòng nhân hậu, phóng khoáng. Giữa cái nạn đói khủng khiếp ấy, anh đã không toan tính mà đón cô thị về làm vợ, nuôi thêm một miệng ăn. Nhưng cũng chính vì có vợ mà tâm lí của Tràng cũng có nhiều thay đổi.

Buổi sáng hôm sau khi Tràng thức dậy tâm trạng của hắn thực sự thay đổi. Niềm vui lâng lâng trong người khi hắn nhìn thấy nhà cửa dọn sạch sẽ tinh tươm. Mẹ Tràng đang nhổ cỏ vườn. Vợ đang quét sân tiếng chổi vang lên đều đều. Bỗng nhiên, anh cảm thấy yêu thương gắn bó với cái nhà của mình một cách lạ lùng. Thế là từ đây Tràng đã có một gia đình, sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đây. Cái nhà sẽ trở thành nơi che mưa che nắng cho vợ chồng anh. Một nguồn sung sướng và phấn chấn dâng lên trong lòng Tràng. Lúc này, Tràng cũng biết bổn phận của người đàn ông trong gia đình cần lo lắng cho vợ. Anh cũng chạy xăm xăm ra giữa sân và tham dự vào một phần giúp tu sửa căn nhà. Chỉ trong một đoạn văn ngắn ngủi mà Kim Lân đã lột tả được tâm trạng của nhân vật Tràng. Từ bất ngờ, bỡ ngỡ cho đến hạnh phúc tột cùng khi biết mình đã có gia đình.

Hình ảnh đoàn người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới hiện lên trong đầu Tràng đã gợi ra sự thay đổi trong nhận thức của nhân vật Tràng. Qua hình ảnh ấy đã mang cho người đọc một niềm tin rằng một ngày nào đó anh Tràng sẽ đi theo cách mạng, theo đoàn người đói để đứng lên đấu tranh, đổi thay cuộc sống.

Nhiều năm tháng qua đi nhưng hình ảnh anh Tràng với những đức tính tốt đẹp vẫn gây ấn tượng sâu sắc trong lòng nhiều thế hệ bạn đọc. Đồng thời, nhà văn Kim Lân cùng tác phẩm Vợ nhặt đã góp phần xây dựng nền văn học Việt Nam giàu đẹp và ý nghĩa hơn.

Phân tích nhân vật tràng sáng hôm sau – Mẫu 4

Kim Lân là cây bút tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Trong cả hai giai đoạn sáng tác ( trước và sau Cách mạng tháng Tám ), tuy viết không nhiều nhưng giai đoạn nào ông cũng có những tác phẩm hay. Với tấm lòng của một người vốn là con để của đồng ruộng, Kim Lân đã viết về nông thôn và người nông dân bằng tất cả sự cảm thông và yêu thương chân thành. Vợ nhặt là truyện ngắn đặc sắc của nhà văn. Tác phẩm có tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư, viết về đề tài nạn đói năm Ất Dậu 1945, kể lại chuyện một thanh niên nghèo nhặt vợ giữa lúc đói quay đói quắt .Nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt đã khẳng định một phát hiện của Kim Lân về người lao động: Dù sống trong hoàn cảnh nào, dù đang ở trong vực thẳm của sự đói khát, họ vẫn luôn khát khao sống, khát khao hạnh phúc. Điều đó được thể hiện rõ qua đoạn trích: Sáng hôm sau , mặt trời lên bằng con sào … tu sửa lại căn nhà. ” Sự thay đổi của nhân vật Tràng trong buổi sáng hôm sau vợ về nhà đã tiếp nối mạch diễn biến của câu chuyện, đồng thời thể hiện sự trân trọng của nhà văn Kim Lân đối với nhân vật của mình cũng là sự trân trọng sâu sắc với những người dân nghèo khổ nhưng có khát khao sống mạnh mẽ.

Tác phẩm lấy bối cảnh xóm ngụ cư vào đỉnh điểm nạn đói năm Ất Dậu 1945. Cái đói đã tràn đến xóm ngụ cư từ lúc nào. Xóm ngụ cư như một bãi tha ma , chẳng còn bóng dáng của sự sống. Trong hoàn cảnh ấy, Tràng – một thanh niên nghèo, kéo xe bò thu nuôi mình và nuôi mẹ già – lại lấy vợ. Việc Tràng nhặt vợ về đã làm nổi bật khao khát hạnh phúc , yêu thương của con người ngày đói. Trong hoàn cảnh đói khát, tăm tối, khi đang cận kề bên miệng vực của cái chết ấy, người lao động Việt Nam vẫn khát khao hạnh phúc, vẫn lạc quan hướng tới tương lai. Điều này được thể hiện rất rõ qua tâm trạng của nhân vật Tràng vào sáng hôm sau, sau khi Tràng nhặt vợ về.

“ Sáng hôm sau , mặt trời lên bằng con sào, Tràng mới trở dậy. Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra ”. Không phải là nỗi lo âu khi đối diện với thực tại đen tối trước mặt. Không phải là cảm giác hối hận khi đã nhặt vợ về giữa những ngày đói khát. Ta chỉ thấy tâm trạng nhẹ nhõm, khoan khoái của một người đàn ông đang tràn ngập niềm hạnh phúc lứa đôi. Tràng đang hạnh phúc, hạnh phúc lớn và đột ngột đến ngỡ ngàng, đến không thể tin được: “ Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải ” Nhà cửa sạch sẽ, tinh tươm : “ Hắn chớp chớp liên hồi mấy cái , và bỗng vừa chợt nhận ra , xung quanh.

Càng ngỡ ngàng hơn khi Tràng nhận thấy xung quanh khác lạ, mới mẻ, cửa nhà nhà mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ. Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vất ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để khô ở dưới gốc cây đã kín nước đầy ăm ắp . Đống rác màn tung hoành ngay lối đi đã được hốt đi. Niềm vui dâng lên trong lòng. Toàn là những dấu hiệu vui, những dấu hiệu về một ngày mai tươi sáng hơn. Nếu chỉ nghĩ đến sự sống chết trước mặt, nếu không có niềm tin rằng mình sẽ thoát khỏi cái đói, nếu không khao khát một cuộc sống khấm khá hơn thì họ sẽ để mặc cửa nhà bừa bộn, nhếch nhác.

Một cảnh tượng hết sức bình dị hiện ra trước mắt Tràng: “ Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi những bụi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất”. Hai người phụ nữ của cuộc đời hắn đang cặm cụi quét tước, thu dọn cửa nhà. “Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại ất thấm thía cảm động. Hạnh phúc, quả thực, đến từ những điều rất nhỏ ”. Niềm vui, niềm hạnh phúc đã đem đến sự đổi thay kì diệu trong tâm hồn Tràng: “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng”. Nhà không là sự vật hữu hình, cụ thể, nhà còn là gia đình, là tổ ấm. Từ giờ trở đi “Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng – nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”. Chỉ trong một đoạn ngắn ngủi mà Kim Lân đã lột tả được tâm trạng của nhân vật Tràng. Từ bất ngờ, bỡ ngỡ cho đến vui sướng tột cùng khi biết mình đã có gia đình. Một niềm vui thật cảm động, cả hiện thực như xen lẫn giấc mơ. Niềm vui như nhân đội, bởi bên cạnh hạnh phúc lứa đôi, Tràng còn có thêm một niềm hạnh phúc to lớn nữa – hạnh phúc gia đình. Anh chàng cục mịch, khù khờ thường ngày vụt trở nên sâu sắc. Hạnh phúc như khiến con người ta trưởng thành hơn trong cảm xúc.

Hạnh phúc còn khiến con người trưởng thành trong nhận thức. Tràng ý thức được bổn phận, trách nhiệm của người đàn ông với gia đình. Tràng nhận thấy ý nghĩa của cuộc đời chính là yêu thương, gắn bó và chăm lo cho những người thân. “Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này. Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân , hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà. Chi tiết hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà ” là một đột biến quan trọng, một bước ngoặt đổi thay cả số phận lẫn tính cách của Tràng: từ khổ đau sang hạnh phúc, từ chán đời sang yêu đời, từ ngây ngô sang nhận thức. Rõ ràng, khát vọng hạnh phúc ở con người lớn hơn cái đói và cái chết. Đó là lí do dẫn đến cái kết“. Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới ” của câu chuyện.

Nhân vật Tràng trong đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung là một phát hiện của nhà văn Kim Lân về người lao động: Dù sống trong hoàn cảnh nào, dù đang ở trong vực thẳm của sự đói khát, họ vẫn luôn khát khao sống, khát khao hạnh phúc. Khát khao ấy mạnh hơn cái đói, cái chết. Phát hiện này làm nên giá trị nhân đạo cho tác phẩm. So với những tác phẩm viết về người lao động trước Cách mạng, Vợ nhặt mang đến một giá trị mới mẻ hơn. Nhà văn không chỉ thấy nỗi khổ của con người và vẻ đẹp tâm hồn của họ mà còn nhìn thấy tương lai và con đường sống tất yếu của họ. Cho dù đang đứng , lao động Việt Nam vẫn tràn đầy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc, vẫn tin trường, tin miệng vực của cái đói, cái chết, cho dù bị dồn đuối đến bước đường cùng thì người dân vẫn tin vào một tương lai tươi sáng hơn.

Nhà văn Kim Lân đã nói: “Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm. Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai. Họ vẫn sống, sống cho ra con người.”

Tâm trạng nhân vật tràng sáng hôm sau – Mẫu 5

Kim Lân là một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam. Một trong những tác phẩm nổi bật của ông phải kể đến trong truyện ngắn Vợ nhặt. Trong truyện, tác giả đã xây dựng nhân vật Tràng, đặc biệt trong đoạn sáng hôm sau khi có được vợ.

Trong truyện, nhân vật Kim Lân đã xây dựng nhân vật Tràng có hoàn cảnh sống là người dân xóm ngụ cư, cha mất sớm, sống cùng mẹ già trong căn nhà tồi tàn. Anh ta làm nghề kéo xe bò thuê lên tỉnh. Một ngày nọ, trên đường kéo xe bò vào dốc tỉnh, Tràng tình cờ gặp gỡ với Thị. Chỉ với câu đùa và bốn bát bánh đúc, Thị đã đồng ý theo làm vợ và theo Tràng về nhà. Khi về đến nhà, bà mẹ của Tràng ban đầu rất ngạc nhiên, sau đó là đón nhận người đàn bà khốn khổ ấy làm con dâu với một sự thương cảm sâu sắc.

Sáng hôm sau, Tràng bỗng cảm thấy mình hoàn toàn đổi khác. Tràng cảm thấy “trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Bản thân Tràng cũng không tin rằng mình đã có được vợ. Rồi Tràng chắp hai tay ra sau lưng, bước ra sân. Anh nhận ra sự xung quanh mình mọi thứ đều có sự thay đổi vô cùng lớn: “Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung hoành ngay lối đi đã hót sạch”. Căn nhà dường như được khoác lên mình một chiếc áo mới. Những cảnh tượng thật ấm cúng hiện ra trước mắt của Tràng: “Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất”. Chỉ là một cảnh tượng thật giản dị, nhưng lại khiến cho Tràng thấy cảm động. Nếu như trước khi có vợ, Tràng chỉ là một anh con trai xấu xí, cục mịch lại có phần dở hơi. Thì sau khi có vợ, Tràng đã hoàn toàn thay đổi về nhân thức. Anh cảm nhận được trách nhiệm của một người chồng, cảm thấy yêu thương cái gia đình của mình đến lạ lùng. Trong suy nghĩ của anh tự nhủ: “Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”. Và suy nghĩ như vậy, Tràng liền hành động: “Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà”. Kim Lân đã thật tinh tế khi khắc họa sự thay đổi của nhân vật Tràng, không chỉ là vẻ bên ngoài mà còn là sự nhận thức bên trong.

Đặc biệt hơn cả là trong bữa ăn đầu tiên sau khi có vợ. Tràng đã nhìn thấy hình ảnh một người phụ nữ hoàn toàn khác. Không còn cái vẻ đanh đá trước đó, mà là người đàn bà hiền hậu đúng mực. Tràng cũng thấy mẹ của mình tươi tỉnh khác hẳn ngày thường. Dù bữa ăn ngày đói trông thật thảm hại, nhưng gia đình Tràng ăn rất ngon miệng. Trong bữa ăn, khi nghe mẹ tính chuyện tương lai, Tràng chỉ vâng. Tiếng vâng của anh cho người đọc cảm nhận được không khí ấm cúng, hòa hợp trong gia đình chưa từng có trước đó. Đến khi bà cụ Tứ bê nồi cháo cám ra, khi Thị điềm nhiên và vào miệng, bà cụ Tứ tươi cười khen “Ngon đáo để”. Thì Tràng cầm bát cháo cám đưa lên miệng, hắn chun mặt lại vì chao chát. Điều đó phần nào vẫn cho thấy nét trẻ con trong hành động của Tràng. Đặc biệt đến cuối cùng, khi nghe cô vợ nhặt nhắc đến những người đi phá kho thóc Nhật, trong óc của Tràng hiện ra hình ảnh người dân đi phá kho và lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới. Điều đó giống như là những hy vọng của Tràng vào một tương lai tươi sáng với sự đổi thay giải phóng họ khỏi cuộc đời khổ cực.

Như vậy, người vợ nhặt đã giúp Tràng có những thay đổi sau sắc về nhận thực. Truyện ngắn Vợ nhặt đã cho thấy tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Đồng thời tác giả còn thể hiện được bản chất tốt đẹp và sức sống kỳ diệu của họ.

Phân tích nhân vật Tràng trong đoạn sáng hôm sau – Mẫu 6

Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn Kim Lân. Truyện đã xây dựng được hình ảnh nhân vật Tràng, với những nét diễn biến tâm lí sâu sắc, đặc biệt là trong đoạn sáng hôm sau, khi Tràng có vợ.

Tràng vốn là một người dân nghèo khổ sống cùng với mẹ già ở xóm ngụ cư. Một ngày nọ, trên đường kéo xe bò vào dốc tỉnh, Tràng tình cờ gặp gỡ với Thị. Chỉ với câu đùa và bốn bát bánh đúc, Thị đã đồng ý theo làm vợ và theo Tràng về nhà. Khi về đến nhà, bà mẹ của Tràng ban đầu rất ngạc nhiên, sau đó là đón nhận người đàn bà khốn khổ ấy làm con dâu với một sự thương cảm sâu sắc. Sáng hôm sau, Tràng bỗng cảm thấy mình đổi khác.

Kim Lân đã khéo léo miêu tả diễn biến hình ảnh Tràng trong sáng hôm sau. Anh cảm thấy: “Trong người êm ái, lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Điều đó cho thấy rằng bản thân Tràng cũng không tin được chuyện mình có vợ là sự thật. Chỉ đến khi nhìn xung quanh, nhận thấy mọi thứ thay đổi. Từ nhà cửa được quét dọn sạch sẽ, gọn gàng. Quần áo mọi khi vẫn vứt một chỗ nay đã được đem ra phơi. Hai cái ang nước cũng được đổ đầy. Đống rác cũng được dọn sạch. Căn nhà khi chỉ có hai mẹ con Tràng thì lụp xụp, thảm hại. Dường như có bàn tay của người phụ nữ đã thay đổi hoàn toàn.

Và rồi cảnh tượng đẹp đẽ nhất hiện ra trước mắt Tràng. Ở ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở. Còn vợ anh thì đang quét lại cái sân. Nhìn thấy cảnh tượng đó, Tràng mới nhận ra rằng chuyện mình có vợ là thật. Và từ đó, nhận thức của anh cũng hoàn toàn thay đổi. Tràng tự nhủ: “Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”. Tràng đã ý thức được trách nhiệm của một người chồng. Bởi vậy mà tiếp tục hành động: “Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà”. Việc Tràng có vợ đã khiến cho anh thêm trưởng thành hơn.

Cho đến bữa ăn đầu tiên, điều đó lại tiếp tục được thể hiện. Tràng đã nhận ra sự thay đổi trong hình ảnh người vợ nhặt. Thị không còn cái vẻ đanh đá trước đó, mà là người đàn bà hiền hậu đúng mực. Anh nhận thấy khuôn mặt bủng beo của mẹ trở nên tươi tỉnh hơn, khác hẳn với ngày thường. Dù bữa ăn ngày đói trông thật thảm hại, nhưng gia đình Tràng ăn rất ngon miệng. Trong bữa ăn, khi nghe mẹ tính chuyện tương lai, Tràng chỉ vâng. Nhưng tiếng vâng lại thể hiện được sự hòa hợp, ấm cúng chưa từng có được của gia đình Tràng. Đặc biệt đến cuối cùng, khi nghe cô vợ nhặt nhắc đến những người đi phá kho thóc Nhật, trong óc của Tràng hiện ra hình ảnh người dân đi phá kho và lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới. Đó giống như là niềm tin vào một tương lai tươi sáng với việc tìm đến ánh sáng của cách mạng.

Như vậy, nhà văn Kim Lân đã khắc họa hình ảnh nhân vật Tràng trong đoạn sáng hôm sau khi có vợ với những nét diễn biến chân thực. Có thể thấy, người vợ nhặt đã khiến Tràng thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp.

Phân tích nhân vật Tràng sau khi có vợ – Mẫu 7

Vợ nhặt là một truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân. Truyện kể về anh cu Tràng – một người nông dân hiền lành chất phác trong hoàn cảnh khó khăn lại có được hạnh phúc. Kim Lân đã xây dựng thành công diễn biến tâm trạng của nhân vật này, đặc biệt ở đoạn sáng hôm sau khi Tràng có vợ.

Trong truyện, Tràng được Kim Lân xây dựng là người dân xóm ngụ cư. Anh sống cùng mẹ già trong căn nhà “vắng teo đứng rúm ró bên mảnh vườn mọc lổm nhổm những búi cỏ dại”. Công việc của anh là kéo xe bò thuê. Ngoại hình xấu xí: “hai mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra”. Bộ mặt thô kệch, thân hình to lớn, vạm vỡ, cái đầu thì trọc lốc… Dưới ngòi bút của Kim Lân, hắn chỉ như một bức chân dung vẽ vội một hình hài được tạo hóa đẽo gọt quá ư sơ sài, cẩu thả. Không chỉ xấu xí mà còn có ngờ nghệch “vừa đi vừa nói”. Hắn hay “lảm nhảm than thở những điều hắn nghĩ” thỉnh thoảng còn “ngửa mặt lên trời cười hềnh hệch”.

Một người như Tràng trong hoàn cảnh như vậy chẳng ai nghĩ rằng sẽ có được vợ. Vậy mà Tràng lại nhặt được vợ, điều đó đã khiến Tràng trở nên thay đổi. Trong buổi sáng hôm sau khi Tràng thức dậy đã cảm nhận được sự thay đổi. Anh cảm nhận được niềm vui khi nhìn mẹ và vợ quét dọn nhà cửa. Mẹ anh thì đang nhổ cỏ vườn. Còn vợ đang quét sân, tiếng chổi vang lên đều đều. Bỗng nhiên, Tràng cảm thấy yêu thương gắn bó với cái nhà của hắn một cách lạ lùng. Thế là từ đây Tràng đã có một gia đình, anh sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đây. Cái nhà sẽ trở thành nơi che mưa che nắng cho vợ chồng Tràng. Một nguồn sung sướng và phấn chấn dâng lên trong lòng anh. Lúc này, Tràng cũng biết bổn phận của người đàn ông trong gia đình cần lo lắng cho vợ. Và “Hắn cũng chạy xăm xăm ra giữa sân và tham dự vào một phần giúp tu sửa căn nhà”. Chỉ trong một đoạn văn ngắn ngủi mà Kim Lân đã lột tả được tâm trạng của nhân vật Tràng. Từ bất ngờ, bỡ ngỡ cho đến hạnh phúc tột cùng khi biết mình đã có gia đình.

Đặc biệt là bữa ăn đầu tiên khi Tràng có vợ, bữa ăn trông thật thảm hại, nhưng gia đình Tràng ăn rất ngon miệng. Trong bữa ăn, khi nghe mẹ tính chuyện tương lai, Tràng chỉ vâng. Tiếng vâng của anh cho người đọc cảm nhận được không khí ấm cúng, hòa hợp trong gia đình chưa từng có trước đó. Đến khi bà cụ Tứ bê nồi cháo cám ra, khi Thị điềm nhiên và vào miệng, bà cụ Tứ tươi cười khen “Ngon đáo để”. Thì Tràng cầm bát cháo cám đưa lên miệng, hắn chun mặt lại vì chao chát. Điều đó phần nào vẫn cho thấy nét trẻ con trong hành động của Tràng. Đặc biệt đến cuối cùng, khi nghe cô vợ nhặt nhắc đến những người đi phá kho thóc Nhật, trong óc của Tràng hiện ra hình ảnh người dân đi phá kho và lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới. Hình ảnh thể hiện niềm tin về một tương lai tươi sáng hơn khi Tràng được biết đến ánh sáng của cách mạng.

Như vậy, nhân vật Tràng trong đoạn sáng hôm sau đã bộc lộ sự thay đổi về tâm trạng và suy nghĩ. Người vợ nhặt đã giúp Tràng có được những thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn.

Phân tích nhân vật Tràng sau khi có vợ – Mẫu 8

Truyện ngắn Vợ nhặt đã miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Qua đó, Kim Lân còn thể hiện được bản chất tốt đẹp và sức sống kỳ diệu của họ. Nhân vật Tràng được Kim Lân khắc họa với những diễn biến tâm trạng, đặc biệt là trong đoạn sáng hôm sau khi Tràng có vợ.

Nhân vật chính trong truyện Vợ nhặt là một người dân nghèo khổ sống cùng với mẹ già ở xóm ngụ cư. Một ngày nọ, trên đường kéo xe bò vào dốc tỉnh, Tràng tình cờ gặp gỡ với Thị. Chỉ với câu đùa và bốn bát bánh đúc, Thị đã đồng ý theo làm vợ và theo Tràng về nhà. Khi về đến nhà, mẹ của Tràng ban đầu rất ngạc nhiên. Sau đó bà đã đón nhận người đàn bà khốn khổ ấy làm con dâu với một sự thương cảm sâu sắc.

Buổi sáng hôm sau có vợ, Tràng sung sướng trong men say của hạnh phúc đôi lứa. Trong người Tràng cảm thấy “êm ái lửng lơ” như người vừa từ giấc mộng bước ra. Kim Lân đã thật tinh tế khi miêu tả: “một cảm giác ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng tựa hồ như có một bàn tay vuốt nhẹ sống lưng”. Có thể thấy tình yêu đã đem đến một sức mạnh diệu kì, làm thay đổi một con người.

Hạnh phúc đến quá bất ngờ khiến Tràng cảm thấy “ngỡ ngàng như không phải” Sự ngạc nhiên đó là hoàn toàn hợp lí, bởi một người như Tràng trong hoàn cảnh nghèo đói lại có được vợ. Chẳng ai ngờ rằng chuyện dựng vợ gả chồng là chuyện trọng đại trong đời người lại được quyết định từ một câu hò vu vơ và bốn bát bánh đúc. Nhưng chính từ việc đó mà Kim Lân đã cho người đọc thấy được tình cảnh thảm hại của người nông dân Việt Nam lúc bây giờ.

Và không chỉ ngạc nhiên khi có được vợ, Tràng còn ngạc nhiên khi thấy căn nhà của mình hoàn toàn thay đổi. Người đàn bà đó đã xuất hiện trong gia đình Tràng khiến cho căn nhà thay đổi. Dưới bàn tay vun vén của mẹ và vợ Tràng, ngôi nhà trước đây rách nát, đã trở thành một mái ấm: “Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã hót sạch”. Bản thân Tràng cũng ý thức được sự thay đổi đó khi thấy “xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ” . Dường như tình yêu đã khiến anh ta trở nên thay đổi.

Khi nhìn thấy hình ảnh người mẹ lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở, nghe âm thanh tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất của vợ, lòng anh ta dấy lên nỗi niềm “thấm thía cảm động”, “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng”. Từ nhận thức mình đã có gia đình, Tràng nghĩ đến những điều xa xôi hơn: “Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng”. Đó là khát vọng hết sức bình thường của con người.

Không chỉ vậy, Tràng còn ý thức được trách nhiệm của mình: “bây giờ hắn mới thấy hắn nên người”. Nhận thức về sự trưởng thành kéo theo nhận thức về bổn phận và trách nhiệm với gia đình. Tràng cảm thấy “có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”. Và không chỉ bằng suy nghĩ mà Tràng còn hành động ngay “Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà”. Đó là hành động thể hiện được sự chuyển biến lớn trong nhân vật này. Chính niềm hạnh phúc được sống trong tình yêu thương, tình mẹ con vợ chồng hòa thuận đã nhen nhóm trong lòng hắn biết bao ước vọng về hạnh phúc, bao niềm tin vào cuộc sống sẽ thay đổi tốt đẹp hơn.

Tràng còn nhận thấy khuôn mặt bủng beo của mẹ trở nên tươi tỉnh hơn, khác hẳn với ngày thường. Đặc biệt, dù bữa ăn ngày đói thật thảm hại, nhưng gia đình Tràng ăn vẫn rất ngon miệng. Khi nghe mẹ bàn tính chuyện tương lai, Tràng chỉ “Vâng”. Một tiếng “Vâng” nhưng thể hiện được sự ấm áp, hòa hợp của gia đình. Đặc biệt đến cuối cùng, khi nghe cô vợ nhặt nhắc đến những người đi phá kho thóc Nhật, trong óc của Tràng hiện ra hình ảnh người dân đi phá kho và lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới. Đó giống như là niềm tin vào một tương lai tươi sáng với việc tìm đến ánh sáng của cách mạng.

Qua đoạn sáng hôm sau, Kim Lân đã cho thấy sự chuyển biến của nhân vật Tràng theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Tác phẩm Vợ nhặt đã gửi gắm những ý nghĩa nhân văn cao cả.

Trích nguồn: TH Văn Thủy
Danh mục: Giáo Dục

Lê Thị Thanh Loan

Cô giáo Lê Thị Thanh Loan tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Hiện nay, Cô đang giảng dạy tại trường Trường tiểu học Văn Thủy
Back to top button